Vốn xã hội trong phát triển kinh tế

18/01/2016

Vào cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước, người ta bắt đầu chú ý đến vai trò của văn hóa trong phát triển, đặc biệt là sự đóng góp của văn hóa vào tăng trưởng kinh tế. Người ta đã dần đưa những yếu tố văn hóa vào các mô hình phát triển. VXH là một trong những yếu tố văn hoá đó. Hàng loạt nghiên cứu của các học giả trên thế giới về VXH đã được thực hiện trong khoảng thời gian sau đó với những chủ đề được quan tâm như vai trò của VXH trong xóa đói giảm nghèo, VXH của những người di cư, VXH trong phát triển kinh tế, VXH trong phát triển doanh nghiệp... Bài viết này sẽ tổng quan một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về việc khai thác, sử dụng vốn xã hội cũng như vai trò của vốn xã hội trong phát triển kinh tế.

1. Nghiên cứu nước ngoài                    

Trong một số nghiên cứu của mình, Francis Fukuyama – một học giả hàng đầu nghiên cứu về VXH – đã chỉ ra cách mà VXH có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo. Ông đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên VXH, và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế, dùng niềm tin như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước.

Trong nghiên cứu về những doanh nghiệp Mỹ latinh, Fukuyama chỉ ra rằng VXH giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của các doanh nghiệp này. Phần lớn tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở các nước Mỹ latinh được tạo ra nhờ các doanh nghiệp sở hữu gia đình – đa số được sở hữu bởi một nhóm nhỏ gồm khoảng 10, 20 hoặc 30 gia đình hàng đầu. Hơn nữa, các doanh nghiệp thường liên kết với nhau theo mạng lưới tổng công ty mở rộng. Những mạng lưới này liên kết các doanh nghiệp theo từng lĩnh vực như bán lẻ, sản xuất, bảo hiểm và ngân hàng. Những mạng lưới này dựa trên mối quan hệ họ hàng; khi các doanh nghiệp gia đình mở rộng thì đưa cả con cháu, họ hàng cùng tham gia. Như vậy, trong hoạt động kinh doanh ở Mỹ latinh, mối quan hệ chắc chắn nhất, tin cậy nhất chỉ có ở phạm vi gia đình hoặc trong nhóm bạn bè thân thiết. Nguồn VXH trước hết nằm trong mạng lưới các quan hệ họ hàng và về nhiều khía cạnh, những mạng lưới đó cấu thành một tài sản xã hội quan trọng. Khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, tình trạng thất nghiệp cao, các mạng lưới gia đình phải góp chung nguồn vốn tạo bước đệm đối phó với những thời kỳ khó khăn. Trong các hoạt động kinh tế, mỗi cá nhân sẽ giảm được nhiều chi phí giao dịch nhờ vào VXH giữa họ. Tuy nhiên, chủ nghĩa gia đình cũng bộc lộ những điểm hạn chế, đó là sự thiếu niềm tin giữa những người xa lạ, đồng thời có nghĩa là các doanh nghiệp gia đình càng phát triển sẽ càng gặp nhiều rắc rối hơn, cuối cùng dẫn đến hạn chế sự tăng trưởng, đặc biệt là trong thế giới toàn cầu hoá.

Dưới một góc nhìn khác, thông qua nghiên cứu “VXH với sự thịnh vượng và đói nghèo của các hộ gia đình ở Indonesia”, Grootaert (1999) đã phân tích vai trò của VXH trong lĩnh vực kinh tế vi mô. Tác giả này chỉ ra rằng VXH đã giúp làm giảm khả năng rơi vào tình trạng đói nghèo của các hộ gia đình. Ông cũng nhận định rằng VXH mang lại lợi ích dài lâu đối với các hộ gia đình, mà cụ thể ở đây là việc tiếp cận dịch vụ tín dụng để tạo ra thu nhập ổn định.

Vai trò của VXH đối với phát triển kinh tế còn được khẳng định bởi Woolcock và Narayan qua một loạt các nghiên cứu như: “VXH và phát triển kinh tế: hướng tới một sự tổng hợp lý thuyết và khung chính sách” (1998); “VXH: hệ quả đối với lý thuyết phát triển, nghiên cứu và chính sách” (2000); “Vị trí của VXH trong việc lý giải những kết quả kinh tế và xã hội” (2001). Các tác giả này nhấn mạnh rằng VXH có vai trò quan trọng trong việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nghiên cứu về VXH của những chủ nhà hàng người Việt Nam định cư tại Nhật Bản, thông qua việc phỏng vấn các chủ nhà hàng này, Hirasawa Ayami (2011) đưa ra một số kết quả như sau: về vốn liếng, khi một người khởi nghiệp, trước tiên họ sử dụng vốn của mình, nếu không có đủ tiền thì họ dựa vào gia đình (vợ/chồng/con cái) và cuối cùng là của bạn bè đồng hương (những người quan hệ rất thân thiết). Gia đình là một nguồn vốn xã hội rất mạnh. Đối với người nhập cư, hoạt động tín dụng rất phổ biến vì người nhập cư nói chung thường khó vay tiền ngân hàng nên họ giúp đỡ nhau để tạo ra vốn. Về thông tin, chủ nhà hàng phải dựa vào những người quen đáng tin cậy để lấy thông tin về giấy phép, luật pháp, địa điểm, bí quyết kinh doanh và những người cung cấp hàng đáng tin cậy. Về lao động, người nhập cư thường sử dụng lao động gia đình và người đồng hương để làm ăn kinh doanh. Một thành viên gia đình sẽ có động cơ mạnh mẽ giúp đỡ người thân. Sự tín nhiệm giữa các thành viên gia đình tạo ra vốn, lợi ích. Tuy nhiên, với những vị trí như đầu bếp, phụ bếp tại nhà hàng thì chủ nhà hàng chấp nhận thuê những người không quá thân thiết bởi vì họ coi trọng khả năng làm việc của người được thuê hơn là quan hệ thân hay không.

2. Nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam thì khái niệm VXH còn khá mới mẻ. Tháng 6 năm 2006, lần đầu tiên có một cuộc hội thảo khoa học quy mô về VXH do Tạp chí Tia sáng (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức với chủ đề “VXH trong phát triển”. Cuộc hội thảo đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều trí thức có uy tín trong và ngoài nước. Phần lớn các tham luận tập trung vào việc giới thiệu khái niệm VXH, bàn về vai trò cũng như việc vận dụng loại vốn này trong phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Một số nhà nghiên cứu như Lê Ngọc Hùng, Hoàng Bá Thịnh đã có những giới thiệu khái quát về VXH. Lê Ngọc Hùng đã tổng kết một số quan niệm, mô hình tổng hợp về VXH, vốn con người và MLXH cũng như việc áp dụng lý thuyết này trong nghiên cứu MLXH của người lao động, mạng thông tin của doanh nghiệp, mạng di cư, vai trò của các loại vốn trong xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Hoàng Bá Thịnh có những phân tích về VXH, MLXH, chức năng của VXH, đồng thời cũng đề cập đến những phí tổn để duy trì VXH và MLXH.

Một số nghiên cứu xã hội học thực nghiệm điển hình như nghiên cứu của Nguyễn Quý Thanh (2005) tìm hiểu về sự giao thoa giữa VXH và các giao dịch của các doanh nghiệp gia đình cho thấy trong điều kiện thị trường vốn tín dụng chưa phát triển, các doanh nghiệp gia đình dựa chủ yếu vào nguồn vốn xã hội từ MLXH gia đình, người thân và bạn bè để huy động vốn kinh tế. VXH dưới dạng trách nhiệm, lòng tin giữa các thành viên gia đình và mối quan hệ thân quen với các cá nhân trong các cơ quan chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng có thể giúp giảm chi phí giao dịch kinh tế cho các doanh nghiệp gia đình và tăng cường khả năng huy động nguồn lao động khi cần thiết.

Fleur Thomése & Nguyễn Tuấn Anh (2007) đã vận dụng quan điểm VXH để nghiên cứu hiện tượng dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp ở một làng Bắc Trung bộ qua nghiên cứu “Quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất dưới góc nhìn VXH ở một làng Bắc Trung bộ”. Các tác giả đã chứng minh rằng chính nhờ vào nguồn vốn xã hội nên các hộ nông dân có thể tiến hành dồn điền, đổi ruộng một cách phi chính thức mà không cần dựa trên giấy tờ hay quan hệ mang tính chính thức và pháp lý. Đấy là một trong những yếu tố quan trọng giúp quá trình sản xuất nông nghiệp được linh hoạt, hiệu quả hơn.

Mai Văn Hai và cộng sự (2007) nghiên cứu mạng lưới quan hệ họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm và vai trò của nó trong hoạt động kinh tế ở nông thôn. Phát hiện từ cuộc nghiên cứu đó là mạng lưới quan hệ họ hàng xuất phát từ tâm lý coi trọng họ hàng và có cơ sở từ nền kinh tế tiểu nông. Một số nhóm ở nông thôn như nhóm chung trâu, nhóm xây dựng, nhóm doanh nghiệp là những ví dụ về mạng lưới quan hệ họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm, những mối quan hệ này chủ yếu là mối quan hệ cận huyết. Các mối liên kết của các nhóm này là tự nguyện và đáng tin cậy, có tính bền vững.

Một nghiên cứu của Đặng Thanh Trúc và cộng sự (2008) về sử dụng VXH của nông dân vùng ven đô trong quá trình đô thị hóa cũng có một phần đề cập đến mạng lưới quan hệ xã hội của các doanh nghiệp ở nông thôn. Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với các doanh nghiệp ở nông thôn thì sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế phát triển đã vượt qua mối quan hệ truyền thống họ hàng, làng - xã, vươn tới mọi ngõ ngách của thị trường trong và ngoài nước. Những quan hệ xã hội mới được mở rộng như quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, giữa chủ doanh nghiệp và khách hàng hay người cung ứng nguyên vật liệu, nhân viên ngân hàng, v.v... VXH giúp các doanh nghiệp giảm chi phí giao dịch, chia sẻ các nguồn thông tin đáng tin cậy về thị trường, từ đó tránh được các nguy cơ rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Bế Quỳnh Nga và cộng sự (2008) nghiên cứu vai trò của MLXH ở nông thôn trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính nhằm giảm thiểu rủi ro và cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình nông dân. Nghiên cứu cho thấy các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội tự nguyện tạo thành một hệ thống trợ giúp xã hội và hiện đang đóng góp tích cực vào việc trợ giúp cho người dân trong bối cảnh của nền kinh tế chuyển đổi. Các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội tự nguyện và hệ thống họ hàng, gia đình đều có những mối liên hệ khá mật thiết tạo nên mạng lưới trợ giúp xã hội, cụ thể là trợ giúp các thành viên trong hội làm kinh tế, xoá đói giảm nghèo.

Trong một công trình nghiên cứu về mạng lưới thông tin của các doanh nghiệp trong nền kinh tế chuyển đổi, Lê Ngọc Hùng đã đưa ra kết quả: trong thời kỳ trước Đổi mới, doanh nghiệp chủ yếu dựa vào mạng nội bộ khép kín với thông tin chính thức nhỏ giọt từ trên xuống và thẩm thấu chậm chạp từ ngoài vào doanh nghiệp qua một số kênh phi chính thức. Tuy nhiên trong quá trình đổi mới, doanh nghiệp chuyển dần sang mô hình mạng mở rộng với môi trường thông tin bên ngoài có sự tham gia của các đầu mối thông tin chuyên nghiệp và các MLXH chính thức và phi chính thức. Nhờ có các nguồn thông tin này mà hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao hơn.

Nghiên cứu về việc thực hiện quyền của người lao động trong các doanh nghiệp FDI các tỉnh miền Nam Việt Nam có sử dụng cách tiếp cận VXH và MLXH (2010), tác giả Nguyễn Văn Tuấn đã xem xét các đặc điểm về thể chế, hành vi chuẩn mực tại các doanh nghiệp FDI, những vấn đề nảy sinh trong quá trình hợp tác/hành động chung trong các doanh nghiệp FDI và vấn đề thực hiện quyền lao động có liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi mạng lưới thông tin không tốt, các bộ phận quản lý, lãnh đạo, nhất là công ty mẹ thiếu thông tin về người lao động thì họ không thể có những điều chỉnh hoặc phản ứng kịp thời khi những lợi ích hợp tác của người lao động tại các công ty con bị vi phạm. Mặt khác, đối chiếu chi phí và lợi ích khi tham gia lao động trong các doanh nghiệp FDI cho thấy lúc đầu thì thuận lợi nhưng sau đó do có sự thay đổi từ môi trường, các chi phí bổ sung đều ảnh hưởng tới lợi ích của người lao động và của công ty. Việc điều hòa lợi ích trong bối cảnh cơ sở ban đầu của sự hợp tác là sự tin cậy, tiếng tăm của công ty cũng thay đổi theo thời gian. Các chủ thể liên quan trong công ty không kịp thời điều chỉnh mục tiêu của hợp tác, do đó gây ra những hành động bất hợp tác. Sự bất hợp tác còn là do mạng lưới lỏng lẻo giữa người lao động với các bộ phận trong doanh nghiệp; và nhiều hoạt động chưa hình thành những hành động tiêu chuẩn được thể chế hóa buộc mọi thành viên phải tham gia, như thiết lập quan hệ giữa công nhân với các bộ phận đại diện (công đoàn); chưa có cơ chế kết nối hoặc khai thác thông tin hình thành mạng lưới giữa người lao động với lãnh đạo các công ty mẹ; đặc biệt là các thỏa ước lao động được thể chế và chính thức hóa, buộc tất cả các bộ phận phải tuân theo.

Qua tổng quan một số nghiên cứu về vốn xã hội, tác giả bài viết nhận thấy các vấn đề liên quan đến vốn xã hội ngày càng được các học giả và các  nhà quản lý quan tâm khi vai trò của VXH thể hiện trong phát triển cá nhân, phát triển kinh tế, phát triển cộng đồng ngày càng lớn. Kết luận mà các nghiên cứu đưa ra đó là đối với doanh nghiệp nước ngoài hay doanh nghiệp Việt Nam, VXH đều có vai trò rất quan trọng đối với họ. VXH giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí giao dịch, huy động nguồn vốn, tiếp cận thông tin, mở rộng thị trường dễ dàng hơn. Bên cạnh những tác động tích cực thì VXH cũng có một số hạn chế đối với sự phát triển, mở rộng quy mô của doanh nghiệp. Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng tốt các nguồn vốn như vốn tài chính, vốn con người, các nhà quản lý doanh nghiệp cần tính đến cả việc sử dụng nguồn vốn xã hội sao cho hợp lý, một mặt phát huy những tác động tích cực của vốn xã hội đối với hoạt động của doanh nghiệp, mặt khác hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nó có thể phát triển một cách bền vững.

Nguyễn Vũ Quỳnh Anh tổng thuật