Chỉ số phát triển công nghệ

18/01/2016

 

Chỉ số phát triển công nghệ (Technology Achievment Index - TAI) được UNDP giới thiệu và đưa ra tính toán trong Báo cáo phát triển con người 2001. Chỉ số này phản ánh mức độ một quốc gia tạo ra và phổ biến công nghệ và xây dựng cơ sở kỹ năng con người - phản ánh năng lực tham gia phát minh công nghệ trong thời đại mạng thông tin. Chỉ số TAI tập trung vào 4 khía cạnh của năng lực công nghệ, có vai trò quan trọng đối với lợi ích của thời đại mạng thông tin. Các chỉ số lựa chọn liên quan đến mục tiêu của chính sách công nghệ của tất cả các quốc gia, không phân biệt tình trạng phát triển công nghệ:

  • Sáng tạo ra công nghệ. Các nước không chỉ muốn dẫn đầu thế giới về phát triển công nghệ, mà còn cần thiết phải có năng lực cải tiến, yếu tố có vị trí cao nhất trong năng lực công nghệ. Sáng tạo công  nghệ được đo bằng số bằng phát minh sáng chế cấp cho dân định cư tính trên đầu người và bằng số thu phí quyền sở hữu trí tuệ và phí bản quyền của nước ngoài trên đầu người;
  • Phổ biến các cải tiến mới. Tất cả các nước đều phải ứng dụng cải tiến để thu lợi từ các cơ hội của thời đại mạng thông tin. Khía cạnh này được đo bằng số máy chủ Internet trên một đầu người và tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghệ trung bình và công nghệ cao..
  • Phổ biến các cải tiến cũ. Việc tham gia vào mạng thông tin thời đại đòi hỏi sự phổ cập nhiều cải tiến công nghệ đã có. Mặc dù đôi khi có thể nhảy vọt, tiến bộ công nghệ là quá trình có tính tích luỹ, và việc phổ biến rộng rãi các phát minh cũ là bước cần thiết để áp dụng các cải tiến công nghệ mới. Các chỉ số của khía cạnh này là số điện thoại (cố định và di dộng) trên đầu người và tiêu thụ điện năng trên đầu người.
  • Kỹ năng con người. Một tập hợp các kỹ năng là điều không thể thiếu đối với sự năng động công nghệ. Cả người phát minh và sử dụng công nghệ đều cần có kỹ năng. Công nghệ ngày nay đòi hỏi khả năng thích nghi - kỹ năng làm chủ dòng chảy của các cải tiến công nghệ mới. Nền tảng của những năng lực này là giáo dục cơ bản nhằm tạo ra các kỹ năng thực hành và kỹ năng về khoa học và toán học. Có hai chỉ tiêu phản ánh kỹ năng con người cần để sáng tạo và áp dụng các cải tiến công nghệ: trung bình số năm đi học của người lớn (15+) và tổng tỷ lệ nhập học đại học khoa học.

Với mỗi chỉ số theo các thước đo trên, các giá trị quan sát tối thiểu và tối đa được đặt ra (giữa các nước có số liệu) là các giá trị tới hạn. Tính toán trong mỗi chỉ số được thể hiện bằng một giá trị năm giữa khoảng 0 và 1 bằng cách áp dụng công thức tính chung sau đây:

Chỉ số chỉ tiêu =    (Giá trị thực tế- giá trị quan sát tối thiểu)/ (Giá trị quan sát tối đa- giá trị quan sát tối thiểu)                  

Chỉ số cho mỗi thước đo là kết quả tính giá trị trung bình chung của các chỉ số trong thước đo đó. Chỉ số TAI, cũng vậy là giá trị trung bình chung của 4 chỉ số trên

            Các giá trị tới hạn để tính toán TAI

Chỉ tiêu

Giá trị quan sát

tối đa

Giá trị quan sát tối thiểu

Số bằng sáng chế cấp cho dân trong nước (trên một triệu dân)

994

0

Số thu quyền sở hữu trí tuệ và phí bản quyền (USD trên 1000 người)

272,6

0

Số máy chủ Internet (trên 1000 người)

232,4

0

Tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghệ cao và trung bình (% trong tổng xuất khẩu hàng hóa)

80,8

0

Số điện thoại (cố định và di động, trên 1000 người)

901

1

Tiêu thụ điện năng trên đầu người (KW giờ)

6.969

22

Trung bình số năm đến trường (độ tuổi 15+)

12,0

0,8

Tổng tỷ lệ nhập học đại học khoa học (%)

27,4

0,1

 

            Mặc dù thành tựu công nghệ có vai trò quan trọng đối với phát triển con người, chỉ số TAI chỉ đo lường thành tựu công nghệ. Chỉ số này không phản ánh việc những thành tựu đó được chuyển hóa như thế nào thành phát triển con người.

Vũ Thanh

Tài liệu tham khảo

UNDP, Báo cáo phát triển con người 2001