Các chỉ số đo lường bình đẳng giới trong báo cáo phát triển con người

12/01/2016

Đảm bảo sự công bằng, bình đẳng về giới vừa là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển con người, vừa là một trong những mục tiêu mà phát triển con người cần hướng tới. Cùng với việc xây dựng chỉ số phát triển con người, UNDP cũng chú trọng và xây dựng các chỉ số để đo lường bình đẳng giới. Cho đến nay, có ba chỉ số được UNDP sử dụng để đánh giá bình đẳng giới bao gồm chỉ số phát triển về giới, chỉ số trao quyền về giới và chỉ số bất bình đẳng giới

  1. Chỉ số phát triển về giới (Gender-related Development Index – GDI)

Chỉ số GDI được UNDP đưa ra và xây dựng cách tính toán từ năm 1995. Chỉ số phát triển về giới là một chỉ số tổng hợp đo lường phát triển con người trên ba lĩnh vực giống như trong chỉ số phát triển con người HDI (tuổi thọ, học vấn và thu nhập) nhưng đã điều chỉnh để xem xét sự bất bình đẳng giới trong những lĩnh vực này. Về cơ bản GDI vẫn dựa trên những số liệu của HDI nhưng có tính đến sự can thiệp của yếu tố giới để qua đó đánh giá trình độ phát triển giới của mỗi quốc gia. Sự khác biệt so với HDI là ở chỗ chỉ số GDI điều chỉnh mức độ đạt được của mỗi quốc gia về tuổi thọ, học vấn và thu nhập cùng với mức độ đạt được của nam giới và nữ giới (UNDP, 1995). Do bất bình đẳng giới có mặt ở hầu hết các nước nên chỉ số GDI thường thấp hơn so với HDI.

Về mặt đo lường, việc đưa ra chỉ số GDI không yêu cầu sự tính toán phức tạp và cũng không cần đo đạc thêm số liệu mà hoàn toàn dựa trên các kết quả thống kê về HDI nhưng có sự tính toán tách biệt cho hai giới. Chính vì vậy có người đã gọi GDI là một biến thể khác của HDI, có ý nghĩa bổ sung chứ không hề mâu thuẫn với HDI. Chỉ số GDI giảm xuống khi mức độ đạt được của cả nam giới và nữ giới giảm xuống hoặc khi sự chênh lệch về những gì đạt được của nam và nữ tăng lên. Sự chênh lệch về những khả năng cơ bản giữa nam và nữ càng tăng thì chỉ số GDI càng thấp khi so sánh với HDI.

Hiện nay, nhu cầu đối với việc tính toán chỉ số phát triển giới (GDI) ngày càng trở nên rõ ràng. Đo đạc được chỉ số phát triển giới sẽ cung cấp cơ sở quan trọng để từ đó các cơ quan chức năng xây dựng các chương trình, chính sách hướng tới sự phát triển của cộng đồng nói chung và cho từng giới nói riêng góp phần thực hiện mục tiêu vì sự phát triển của phụ nữ. Việc sử dụng GDI trong đánh giá của các tổ chức của Liên Hợp Quốc về mức thang phát triển của mỗi quốc gia khu vực hiện nay đã trở nên phổ biến. Mặc dù hoàn toàn dựa trên cách tính tính toán của HDI nhưng trong một số trường hợp GDI đã thay thế HDI trong các đánh giá phát triển liên quan tới yếu tố giới.

  1. Chỉ số đo lường trao quyền về giới (Gender Empowmer Measure – GEM)

Đo lường mức độ trao quyền về giới là một trong những chỉ báo được sử dụng để đánh giá mức độ bất bình đẳng giới. Chỉ số này được giới thiệu trong báo cáo phát triển con người 1995 cùng với chỉ số GDI. Nó tập trung vào ba biến số phản ánh sự tham gia của phụ nữ vào quá trình đưa ra các quyết định về chính trị và việc tiếp cận của họ với đối các cơ hội mang tính nghề nghiệp (có chuyên môn) và quyền kiếm sống. Phụ nữ thường bị loại trừ ra khỏi những sự tham gia đó và như vậy có nghĩa là họ bị tước quyền công dân. Bởi vậy, chỉ số đo lường mức độ trao quyền về giới giúp đưa ra một trong những công cụ có thể đánh giá mức độ phụ nữ được trao quyền như thế nào ở các nước khác nhau.

Chỉ số đo lường mức độ trao quyền về giới xem xét phụ nữ và nam giới có thể tham gia tích cực như thế nào vào đời sống kinh tế chính trị và quá trình ra quyết định. Nếu chỉ số phát triển liên quan đến giới (GDI) tập trung vào việc mở rộng khả năng thì chỉ số đo lường mức độ trao quyền về giới (GEM) quan tâm tới việc sử dụng những khả năng đó để đem lại lợi ích về các cơ hội của họ trong đời sống xã hội. GEM cố gắng đánh giá xem phụ nữ được trao quyền hay được giải phóng như thế nào để tham gia vào những lĩnh vực khác nhau của đời sống chung trong mối tương quan với nam giới. Nhưng do sự hạn chế về số liệu nên tiếc rằng chỉ số này không đo lường được sự trao quyền ở một số lĩnh vực khác, ví dụ như trong đời sống hộ gia đình, cộng đồng và ở các khu vực nông thôn. GEM mới chỉ tập trung vào các biến số cơ bản là khả năng kiếm sống về kinh tế; sự chia sẻ những công việc (mang tính chất chuyên môn và tính chất quản lý); chia sẻ các vị trí trong quốc hội. Cụ thể:

(1) Hệ các biến số thứ nhất được lựa chọn phản ánh sự tham gia về kinh tế và ra quyết định kinh tế. Nó bao gồm tỷ lệ phần trăm phụ nữ và nam giới chiếm giữ các vị trí quản lý và tỷ lệ phụ nữ và nam giới có được những nghề nghiệp mang tính kỹ thuật và chuyên môn (xác định theo phạm trù nghề nghiệp).

(2) Hệ biến số thứ hai được lựa chọn phản ánh sự tham gia vào chính trị và quá trình ra quyết định về chính trị. Chỉ báo đo lường biến số này được phản ánh qua tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan công quyền ở các cấp địa phương; tỷ lệ nam giới và nữ giới ở trong quốc hội).

Tuy nhiên, GEM không phải là một chỉ số mang tính quy tắc với hệ chuẩn mực mang tính toàn cầu. Điều cần thiết không phải là một tỷ lệ nhất định nam giới và nữ giới được lựa chọn tham gia vào vũ đài kinh tế, chính trị mà là cung cấp sự bình đẳng về cơ hội lựa chọn cho cả nam và nữ. GEM xem xét các kết quả của sự tham gia về kinh tế và chính trị. Những kết quả này có thể được gây ra do những rào cản về cấu trúc đối với việc phụ nữ tiếp cận các vũ đài kinh tế, chính trị; hoặc có thể được tạo ra do cả phụ nữ và nam giới đều mong muốn nắm giữ các vai trò trong xã hội mà điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào nền tảng văn hoá của mỗi quốc gia (UNDP, 1995).

  1. Chỉ số bất bình đẳng giới (Gender inequality index - GII)

Chỉ số bất bình đẳng giới GII được đưa ra trong báo cáo phát triển con người của UNDP 2010 và được sử dụng như một chỉ số để đánh giá bất bình đẳng giới ở các quốc gia. Chỉ số GII đo lường ba chiều cạnh thiết yếu đối với phụ nữ bao gồm sức khỏe sinh sản, trao quyền và tham gia vào thị trường lao động. GII đo lường sự thiếu hụt trong ba chiều cạnh này do bất bình đẳng giới. Chỉ số GII càng cao (càng tiến dần đến giá trị 1) phản ánh sự bất bình đẳng càng lớn. Theo số liệu của Báo cáo phát triển con người 2010, chỉ số bất bình đẳng giới ở các nước phát triển OECD là khá thấp (giá trị chỉ số trên trên 0.3), trong khi chỉ số bất bình đẳng lại khá cao ở các nước Nam Á, châu phi và các quốc gia Ả-rập (UNDP, 2010, tr.160)

Đối với chiều cạnh sức khỏe sinh sản, có hai chỉ báo được sử dụng để đo lường trong chỉ số GII. Thứ nhất là tỷ lệ bà mẹ tử vong khi sinh. Điều này sẽ được giảm thiểu thông qua giáo dục cơ bản, dinh dưỡng đầy đủ, tiếp cận với các dụng cụ tránh thai, dịch vụ sức khỏe thai sản và sự tham gia của cán bộ y tế trong khi sinh nở. Thứ hai là tỷ lệ sinh sản vị thành niên. Việc có con sớm làm gia tăng nguy cơ về sức khỏe đối với bà mẹ và trẻ em, đồng thời hạn chế cơ hội phát triển về mặt giáo dục đối với phụ nữ và họ khó có cơ hội có được việc làm có chuyên môn, kỹ năng (UNDP, 2010).

Chiều cạnh trao quyền được đo lường qua tỷ lệ phụ nữ và nam giới trong quốc hội. Tăng cường học vấn sẽ mở rộng sự tự do cho phụ nữ bởi họ có khả năng yêu cầu, phản ánh và hành động về điều kiện của họ và tăng cường khả năng tiếp cận thông tin (UNDP, 2010). 

Đối với chiều cạnh thị trường lao động, mặc dù đo lường tỷ lệ phụ nữ có việc làm và thât nghiệp, chỉ báo này bị phê phán là không phản ánh được khoảng cách về thu nhập và dữ liệu này khó có thể có được đầy đủ ở nhiều quốc gia (UNDP, 2010, tr. 90-92).

Vũ Thanh

Tài liệu tham khảo

UNDP. (1995). Human Development Report 1995: New York: Oxford University Press.

UNDP. (2010). Human development report 2010. The real wealth of nations: Pathways to human development. New York: Palgrave Macmillan.