Lịch sử khái niệm "Vốn xã hội"

01/12/2015

Mặc dù thuật ngữ vốn xã hội xuất hiện đã từ lâu, nhưng hơn hai chục năm trở lại đây khái niệm VXH mới thu hút được sự quan tâm của cả giới khoa học cũng như những nhà quản lý, hoạch định chính sách. Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận xung quanh khái niệm vốn xã hội và chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm này. Tuy nhiên, người ta không thể phủ nhận vai trò ngày càng lớn của VXH đóng góp vào quá trình phát triển của cá nhân và cộng đồng, vào sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.

Phần viết dưới đây là một trình bày tóm lược về lịch sử ra đời khái niệm vốn xã hội, đặc điểm của vốn xã hội, tính hai mặt của vốn xã hội và cách thức đo lường vốn xã hội.

Lịch sử ra đời khái niệm Vốn xã hội

Khái niệm “vốn xã hội” được nhà giáo dục học người Mỹ L.J. Hanifan đưa ra lần đầu tiên vào năm 1916 với cách hiểu là những thứ “được tính nhiều nhất trong cuộc sống thường nhật của con người: cụ thể là thiện ý, tình bằng hữu, sự đồng cảm và giao thiệp xã hội giữa những cá nhân và gia đình tạo thành một đơn vị xã hội... Nếu (một cá nhân) giao tiếp với các láng giềng của mình, và họ với láng giềng của họ, thì sẽ có sự tích tụ VXH, cái có thể thoả mãn ngay các nhu cầu xã hội của anh ta và có thể có một tiềm năng xã hội đủ để cải thiện đáng kể điều kiện sống của cả cộng đồng”. Nhiều năm sau đó khái niệm này bị lãng quên và nó chỉ thực sự trở thành khái niệm khoa học quan trọng khi xuất hiện trong tác phẩm “Các hình thức của vốn” do Pierre Bourdieu viết năm 1986. Ông đã du nhập khái niệm “vốn” của lĩnh vực kinh tế học vào lĩnh vực xã hội học để phân tích quá trình lưu thông của các loại tài sản khác nhau trong không gian - thời gian xã hội. Đóng góp quan trọng nhất của Bourdieu là đã mở rộng khái niệm “vốn” vượt ra khỏi quan niệm ban đầu là vốn kinh tế, bó hẹp trong các trao đổi vật chất ra các phạm vi “phi vật chất” và “phi kinh tế”. Ông định nghĩa “VXH là một mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hệ quen biết nhau và nhận ra nhau, những mối liên hệ này ít nhiều đã được thiết chế hoá”.

Theo Bourdieu, VXH là các nguồn, các tiềm năng liên quan đến các quan hệ bền vững của một thực thể xã hội, tạo nên niềm tin, sự cảm thông, sự gắn kết, hợp tác và những hành động mang tính tập thể. VXH này nằm trong các quan hệ của con người. Nó thể hiện ra ngoài bằng: 1) niềm tin, sự tin cậy lẫn nhau; 2) sự tương hỗ, có đi có lại; 3) các quy tắc, các hành vi mẫu mực, các chế tài; 4) sự kết hợp với nhau thành mạng lưới.

Năm 1988, James Coleman, một nhà xã hội học người Mỹ đã phát biểu VXH bao gồm những đặc trưng trong đời sống xã hội như: 1) các mạng lưới xã hội (MLXH); 2) các chuẩn mực; và 3) sự tin cậy trong xã hội, là những cái giúp cho các thành viên có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới những mục tiêu chung.

Theo Coleman, VXH có ba tính chất quan trọng: thứ nhất, nó tuỳ thuộc vào mức độ tin cậy lẫn nhau của con người trong xã hội, nói cách khác, nó tùy thuộc vào nghĩa vụ mà mỗi người tự ý thức thực hiện và kỳ vọng của người này với người khác. Thứ hai, nó có giá trị vì chứa đựng những liên hệ xã hội mang đặc tính của kênh truyền thông, cụ thể là qua tiếp xúc với hàng xóm, bạn bè, mỗi người có thể thu thập nhiều thông tin hữu ích cho cuộc sống, thay thế phần nào những thông tin trong sách báo, truyền thanh, truyền hình. Thứ ba, VXH càng lớn khi xã hội càng có nhiều quy tắc, nhất là những quy tắc có kèm theo trừng phạt. Coleman cũng có quan điểm giống Bourdieu khi cho rằng VXH có thể là biểu hiện hoặc tiềm ẩn, có thể chuyển hoá sang vốn kinh tế (có tính chất hàng hoá công) và có thể được tăng thêm do sự nỗ lực của cá nhân.

Nhà chính trị học Robert Putnam (1995) có ý tưởng tương tự như Coleman, ông định nghĩa VXH là những phương tiện và những kỹ năng đào tạo có tác dụng làm gia tăng năng suất của cá nhân. VXH nói tới những khía cạnh đặc trưng của tổ chức xã hội như các MLXH, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội, VXH tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp và sự hợp tác nhằm đạt đến lợi ích hỗ tương. Khái niệm VXH của Putnam được xây dựng với ba thành tố, gồm (i) các nghĩa vụ đạo đức và chuẩn mực; (ii) giá trị xã hội (nhấn mạnh đến sự tin tưởng); và (iii) xã hội dân sự (đặc biệt là các thành viên của các hiệp hội tự nguyện). Putnam phân biệt hai loại hình cơ bản của VXH, đó là gắn kết và bắc cầu. VXH có thể có tác dụng gắn kết đối với các thành viên thuần nhất trong khi VXH có tác dụng bắc cầu đối với những thành viên không đồng nhất với nhau về mặt xã hội ở trong nhóm.

Theo Putnam, có những lý do sau đây có thể giải thích ý nghĩa quan trọng của VXH đối với sự phát triển kinh tế và xã hội. Thứ nhất, VXH cho phép người dân giải quyết các bài toán tập thể một cách dễ dàng hơn. Con người thường cảm thấy mình mạnh và khoẻ hơn khi có sự hợp tác với những người mà mình chia sẻ. Thứ hai, VXH có tác dụng bôi dầu cho các bánh xe tiến lên của cộng đồng vận hành một cách trơn tru hơn. Ở đâu mà con người tin cậy và tín nhiệm nhau và những tương tác thân thiện được lặp đi lặp lại thì công việc kinh doanh hàng ngày và các giao dịch xã hội cũng được thuận tiện hơn. Thứ ba, VXH giúp con người mở rộng tầm hiểu biết về nhiều con đường có thể có liên kết với số phận mình, do đó có khả năng giúp cải thiện cuộc sống của mình. Tóm lại, các mạng lưới liên kết tạo nên nguồn vốn xã hội có tác dụng truyền đưa các dòng thông tin hữu ích giúp con người nhanh chóng hơn trong việc đạt đến các mục tiêu cuộc sống của mình.

Francis Fukuyama (2001), một nhà khoa học có nhiều nghiên cứu về VXH, quan niệm “VXH là các chuẩn mực, giá trị được chia sẻ để thúc đẩy sự hợp tác, điều này được chứng minh bằng các mối quan hệ xã hội thực sự”. Theo ông, VXH được phát sinh một cách ngẫu nhiên, đó là kết quả của các mối tương tác được lặp đi  lặp lại. Ông nhấn mạnh rằng các mối tương tác đó chỉ hữu dụng và có tác động tích cực khi các mối quan hệ đó được đặt trên một nền tảng là sự tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên của cộng đồng cùng tham gia vào các mối quan hệ này. Niềm tin giữa những cá nhân, nhóm trong xã hội có thể có những tác động lớn hơn đến các lĩnh vực mà bản thân cá nhân, nhóm đó cũng không thể lường hết được. Theo Fukuyama, VXH có vai trò, chức năng rất quan trọng trong bất cứ xã hội nào, là phương tiện để các nhóm cá nhân trao đổi và cộng tác trong nhiều hoạt động nhằm đạt được lợi ích.

Một số điểm tương đồng và khác biệt trong các định nghĩa về VXH

Cho đến nay, khái niệm VXH được các học giả, các nhà nghiên cứu thảo luận, phát triển với nhiều cách diễn giải và định nghĩa khác nhau. Có một số điểm tương đồng giữa các tác giả khi bàn về VXH, đó là: Thứ nhất, các tác giả đều đề cập đến mạng lưới xã hội (MLXH). Thứ hai, nhiều tác giả dùng khái niệm nguồn lực để định nghĩa VXH. Thứ ba, VXH được tạo ra thông qua việc đầu tư vào các quan hệ xã hội hoặc MLXH, và các cá nhân có thể sử dụng VXH để tìm kiếm lợi ích. Thứ tư, sự tin cậy và quan hệ qua lại hay là sự có đi có lại được nhiều tác giả đề cập đến khi bàn về VXH.

Bên cạnh những điểm thống nhất thì các nhà nghiên cứu cũng có các quan điểm khác nhau về VXH, chẳng hạn: Bourdieu nhấn mạnh VXH với tư cách là một thứ tài sản mà mỗi cá nhân có thể có được, nhưng ngược lại Coleman và Putnam lại hiểu VXH như là một thứ tài sản chung của một cộng đồng hay một xã hội nào đó. Trong khi Putnam cho rằng VXH bao gồm các MLXH thì Nan Lin lại khẳng định VXH nằm trong/thuộc về các MLXH. Mặt khác, Lin cũng cho rằng sự khép kín, dày đặc trong những mối quan hệ xã hội và MLXH là không quan trọng. Ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cầu nối trong mạng lưới đã tạo điều kiện cho thông tin và sự ảnh hưởng của việc lưu thông các thông tin. Quan điểm này trái ngược với Bourdieu, Coleman và Putnam khi các học giả này cho rằng sự khép kín của nhóm và sự dày đặc trong phạm vi nhóm là một yêu cầu cho việc nâng cao hiệu quả của mạng lưới. Theo Lin, thay bằng việc xem xét mạng lưới khép kín hay mở là tốt hơn thì hãy xem xét trong điều kiện nào thì mạng lưới dày đặc hoặc thưa thớt hơn sẽ mang đến lợi ích tốt hơn cho các thành viên trong mạng lưới.

Tính đặc thù của VXH

VXH được xem là một dạng vốn được sở hữu bởi các thành viên của một nhóm hoặc MLXH. Do vậy, VXH cũng có những đặc trưng cơ bản của “vốn” như “tích luỹ”, “đầu tư”, “sinh lợi”, "sử dụng"... Tính tích luỹ được thể hiện ở chỗ các mối quan hệ xã hội được tạo thành và được tích luỹ qua thời gian để tạo thành vốn. Vì vậy, VXH đòi hỏi phải có một sự đầu tư, ít nhất là về thời gian để duy trì và phát triển các mối quan hệ. Từ đó, các lợi ích vật chất và tinh thần mà các cá nhân mong đợi sẽ được sản sinh thông qua sự tương tác giữa các cá nhân trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, VXH còn có đặc trưng của một “tài sản công” mà mỗi thành viên của một nhóm hay MLXH có thể tiếp cận được và huy động cho các mục đích riêng. Đây là một đặc trưng để phân biệt VXH với các loại vốn khác. Một đặc trưng quan trọng nữa của VXH làm cho nó khác với các loại vốn khác là VXH chỉ tồn tại và sinh ra lợi ích khi có một sự tương tác được lặp lại giữa ít nhất hai cá nhân. Bởi vì thông qua sự tương tác lặp đó thì VXH mới được duy trì và sản sinh ra các lợi ích. Ngoài ra, VXH còn mang những đặc trưng xã hội, chẳng hạn nó chứa đựng các yếu tố ngoại sinh như các chuẩn mực, quy tắc, giá trị mà các cá nhân cùng chia sẻ để tạo ra sự tin cậy lẫn nhau, nhờ đó các quan hệ xã hội và các MLXH được hình thành. Với các đặc trưng như vậy nên VXH có thể sẽ bị nghèo đi nếu ít có sự đầu tư và không thể sản sinh ra lợi ích nếu không có sự chia sẻ hay tiếp cận và huy động các nguồn lực được gắn vào MLXH.

Tính tích cực / tiêu cực của VXH

VXH có tính hai mặt, cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Trong các nghiên cứu nhiều tác giả phương Tây thường nhấn mạnh đến mặt tích cực của VXH, nhấn mạnh đến ý nghĩa và vai trò to lớn của nó trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Chỉ có một số ít nghiên cứu chỉ ra những mặt tiêu cực hay những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội của VXH. Các quan hệ xã hội có thể mang lại sự kiểm soát nhiều hơn đối với hành vi vốn không dễ sai khiến và cung cấp đặc quyền tiếp cận các nguồn lực; chúng cũng có thể hạn chế tự do cá nhân và ngăn cản những người ngoài tiếp cận cùng những nguồn lực đó.

Theo Alexandro Portes, VXH có những hệ quả tiêu cực như tạo ra sự ràng buộc bên trong nhóm, tạo ra sự khép kín, đóng cửa và như vậy có thể ngầm hạn chế quan hệ với những người ngoài nhóm. Đồng thời sự khép kín trong nội bộ nhóm có thể ngăn cản các sáng kiến, tạo ra sự ỷ lại tập thể, thiếu năng động. VXH có thể thông qua quan hệ xã hội, mạng xã hội kiểm soát quá chặt chẽ các cá nhân và như vậy làm giảm sự tự do, tự chủ và sự riêng tư của cá nhân. VXH khép kín trong một nhóm, một cộng đồng cũng có nguy cơ tạo ra sự bình quân chủ nghĩa trong cách ứng xử với con người.

Fukuyama cũng chỉ ra VXH trong các quan hệ họ hàng tạo ra sự trợ giúp hiệu quả cho doanh nghiệp hoặc cho các cá nhân trong những thời điểm mà điều kiện kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, điều này cũng mang lại những hệ quả tiêu cực như thiếu sự tin tưởng đối với người xa lạ, từ đó gây khó khăn cho doanh nghiệp khi các doanh nghiệp lớn mạnh. Putnam cho rằng mặt trái của VXH là khuynh hướng bè phái, quan niệm vị chủng và tham nhũng.

Ngô Đức Thịnh cho rằng ở nông thôn Việt Nam hiện tại và cả trong tương lai, các cá nhân và gia đình khó tồn tại và phát huy được tác dụng của mình nếu thiếu môi trường dòng tộc và làng - xã. Tuy nhiên, mối quan hệ dòng tộc và làng - xã cũng có những hạn chế. Dòng họ, huyết thống, một mặt, tạo nên sự cố kết, hỗ trợ cả về vật chất, tinh thần, bảo tồn truyền thống dòng họ, xây dựng nhân cách con người nhưng mặt khác, nhất là khi sự đối trọng kiểu sống sao cho êm ấm “trong họ ngoài làng” có nguy cơ bị phá vỡ, thì dòng họ cũng bộc lộ rõ hơn nhiều mặt hạn chế, như tạo nên sự cục bộ dòng họ, kèn cựa, ganh đua, tạo nên sự chia rẽ ở nông thôn.

Đo lường vốn xã hội

          Vì khái niệm VXH là một khái niệm đa chiều kích, được quan niệm khác nhau tùy từng cấp độ nghiên cứu nên việc đo lường trong nghiên cứu thực nghiệm cũng không dễ dàng. Nhiều tác giả, nhiều tổ chức trên thế giới đã phát triển nhiều kỹ thuật và phương pháp để đo lường VXH nhưng vẫn chưa có phương pháp nào được chấp nhận rộng rãi. Chính phủ Canada, Australia và Ngân hàng Thế giới đã có những sáng kiến đáng kể về nghiên cứu và đo lường VXH. Khác với các dạng vốn khác, VXH không thể đo lường trực tiếp, mật độ các mối quan hệ trong một mạng lưới là thước đo VXH. Ngân hàng Thế giới đã đưa ra một bộ công cụ để đo VXH, đó là một bảng hỏi tập trung vào các chỉ báo: nhóm và các mạng lưới, sự tin cậy và tính đoàn kết, hành động tập thể và sự hợp tác, thông tin và truyền thông, tính cố kết xã hội, sự trao quyền và hành động tập thể. Ngoài ra, một số các học giả và tổ chức quốc tế cũng đưa ra những hệ chỉ báo khác nhau để đo lường VXH.

          Mặc dù còn nhiều tranh cãi và chưa có sự thống nhất về nội hàm khái niệm vốn xã hội nhưng tùy vào mục tiêu và nội dung nghiên cứu mà người ta vận dụng những cách hiểu, những cách đo đạc khác nhau để tìm hiểu về vốn xã hội, nghiên cứu việc khai thác, sử dụng vốn xã hội cũng như đóng góp của vốn xã hội vào tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.

Nguyễn Vũ Quỳnh Anh tổng thuật