Tổng quan tình hình nghiên cứu An ninh nguồn nước

01/12/2015

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU AN NINH NGUỒN NƯỚC[1]

 

Theo Tuyên bố Cấp Bộ trưởng của Diễn đàn Nước Thế giới lần thứ 2 (năm 2000), an ninh nguồn nước (ANNN) đồng nghĩa với việc “đảm bảo rằng các hệ sinh thái nước ngọt, hệ sinh thái biển và các hệ sinh thái liên quan được bảo vệ và củng cố; phát triển bền vững và ổn định chính trị sẽ được đẩy mạnh; mỗi người đều được tiếp cận đầy đủ nguồn nước sạch với chi phí vừa phải để có được một cuộc sống khỏe mạnh, sung túc và các cộng đồng dễ bị tổn thương sẽ được bảo vệ trước rủi ro từ những thảm họa liên quan đến nước”. Tuy vậy, thời gian gần đây, ANNN đang phải đối mặt với nhiều thách thức khó lường khi mà các khu vực lớn trên thế giới đang rơi vào tình trạng thiếu nước hoặc căng thẳng trầm trọng về nước. Tình trạng ấy càng trở nên tồi tệ hơn vì dân số tăng nhanh, công nghiệp phát triển và sự tiêu dùng quá mức, trong khi hiện trạng quản lý tài nguyên nước vẫn còn yếu kém.

Suốt thế kỷ qua, dân số toàn cầu đã tăng gấp 3 lần, song lượng sử dụng nước lại tăng tới 6 lần. Bên cạnh đó, những hoạt động của con người như: dùng quá nhiều hóa chất trong nông nghiệp; thải chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải làng nghề, y tế,... phần lớn xả trực tiếp ra môi trường làm cho chất lượng nguồn nước bị suy giảm đáng kể. Cùng với đó, biến đổi khí hậu cũng là nguyên nhân khiến lượng mưa thay đổi, gia tăng các đợt lũ lụt và hạn hán cả về tần suất và mức độ. Tình trạng khai thác nguồn nước ngầm và việc phát triển các đập nước cũng khiến khối lượng và chất lượng tài nguyên nước suy giảm.

Việt Nam là nước có nhu cầu lớn về sử dụng nước để phục vụ cho hai thế mạnh của quốc gia là sản xuất nông nghiệp và thủy sản, cũng như đáp ứng nhu cầu thiết yếu của hơn 90 triệu dân hiện tại và nhiều hơn trong tương lai. Trong khi đó, Việt Nam là quốc gia nằm cuối nguồn của hầu hết các con sông quốc tế quan trọng chảy vào lãnh thổ. Tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa và nước dưới đất ở nhiều vùng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Bên cạnh đó, việc ô nhiễm các nguồn nước hiện có khiến cho Việt Nam đang đứng trước các mối đe dọa rất nghiêm trọng về ANNN, đặc biệt là những cộng đồng sống phụ thuộc vào sông nước và ¾ dân số sống bằng nghề nông. Sẽ khó khăn hơn nếu không có những cơ chế, chính sách để bảo vệ, chia sẻ nguồn nước một cách hợp lý và thay đổi cơ bản trong việc quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước nhằm đảm bảo quyền về nước của tất cả mọi người.

Nhiều nghiên cứu cho rằng: Nguồn nước có thể trở thành công cụ, phương tiện cho các âm mưu khủng bố trong tương lai, có thể làm cho các quốc gia có những mối bất đồng về hợp tác trong việc thực hiện các chính sách quan trọng. Tình trạng khan hiếm nước sẽ tác động rất lớn đối với người nghèo và những người dễ bị tổn thương. Hàng ngày, có hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái phải đi xa lấy nước cho gia đình, đây là một trong những nguyên nhân khiến tỉ lệ phụ nữ và trẻ em gái đi học và làm việc trong khu vực chính thức thấp. Dự báo trong vòng 20 năm tới, khả năng cấp nước cho người dân chỉ còn khoảng 1/3 so với hiện tại. Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) ước tính, vào năm 2025 1,8 tỉ người sẽ sống ở những khu vực "hoàn toàn thiếu nước" và 2/3 dân số thế giới có thể chịu hoàn cảnh "bị căng thẳng về nước". Hiện còn 1 tỉ người trên thế giới đang bị ám ảnh về sự khan hiếm nước và mỗi ngày có tới 4.000 trẻ em bị chết vì dùng nước không đảm bảo vệ sinh. "Thế giới đang khát" và cơn khát ấy đã, đang và sẽ là nguyên nhân gây ra các cuộc bất đồng, xung đột giữa các quốc gia. Theo FAO, để tránh nguy cơ về an ninh nguồn nước, cần giải quyết được bốn vấn đề: hệ quả xã hội, kinh tế và môi trường khi lấy nước từ thiên nhiên; quan hệ giữa sử dụng đất và nguồn nước; sự trả giá khi có sự chuyển đổi nguồn nước và sử dụng đất; những vấn đề xã hội cần lưu ý khi có sự khủng hoảng nguồn nước.

Các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất về nước là khu vực Bắc Phi, Trung Đông và Nam Á. Ước tính có đến 1,1 tỷ người thiếu nguồn nước uống an toàn, 2,6 tỷ người không thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu về nước vệ sinh trong sinh hoạt của mình (UNDP, 2006). Theo những ước tính có căn cứ thì có đến 5 triệu người chết mỗi năm do các nguyên nhân liên quan đến nước (Gleick, 2004). Tình trạng thiếu nước ảnh hưởng không cân đối lên các khu vực nghèo đói, dễ bị tổn thương và có sự phân biệt mạnh về giới. Thời gian phụ nữ và trẻ gái phải đi lấy nước là một trong những yếu tố góp phần làm giảm tỷ lệ trẻ em nữ đến trường ở rất nhiều các quốc gia (UNDP, 2006, tr. 47). Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu cũng làm cho những thách thức về nước trở nên khó khăn hơn với sự phân bố mất cân đối về lượng nước ngọt sẵn có. Theo Uỷ ban Quốc tế về BĐKH toàn cầu, “những tổn hại do BĐKH đối với nguồn nước đang vượt qua những giá trị do nguồn nước mang lại” (Kundzewicz et al., 2007, tr.175). Nước là vấn đề thách thức toàn cầu trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường (BVMT) và an ninh nhân loại; nước cũng là đặc trưng của hàng loạt các vấn đề môi trường “xuyên quốc gia”, các tổ chức quốc tế đang được hình thành để tập trung vào một vài mảng, như: sáng kiến hỗ trợ phát triển, những nỗ lực điều hòa các cuộc tranh luận đang tiếp diễn về tư hữu hóa nguồn nước và những đập nước lớn, chiến dịch đòi công nhận “quyền về nước”, và công ước khung hợp tác quốc tế về chia sẻ các lưu vực sông,...

        Các nghiên cứu chỉ ra rằng, từ năm 1990 đến nay đã có ít nhất 18 cuộc xung đột nghiêm trọng xảy ra trên khắp thế giới mà nguyên nhân xuất phát từ sự cạnh tranh về nước, như: cuộc chiến về nước kéo dài 30 năm ở Sudan; Iraq cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ đã xây đập chặn mất nguồn nước của sông Tigris và Euphrates chảy vào Iraq; Ai Cập, Sudan và Etiopia cũng tiềm ẩn xung đột do tranh chấp việc kiểm soát nguồn nước sông Nile; Ấn Độ và Trung Quốc cũng có những vấn đề về nước bởi Trung Quốc xây đập chắn trên sông Brahmaputra gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước của Ấn Độ. Giới chuyên viên cảnh báo rằng, tình trạng thiếu nước ở châu Á có thể gây ra cuộc chiến tranh mới: việc Iran thường xuyên dọa đóng eo biển Hormuz khiến người ta liên tưởng tới sự sụp đổ của thị trường dầu mỏ thế giới. Với vùng Vịnh Ba Tư, việc đóng eo biển Hormuz có nghĩa là họ bị tước nước ngọt. Toàn bộ lượng nước ngọt tiêu thụ ở Ả-rập Xê-út, Kuwait, Qatar và UAE được nhập khẩu thông qua eo biển này. Các quốc gia trên lập những kế hoạch để tránh tình trạng bị phong tỏa nước. Một số quốc gia sẵn sàng tham gia cuộc chiến vì các dòng sông. Ấn Độ và Pakistan đã ba lần chiến tranh, hiện đang đứng trên bờ vực cuộc xung đột mới vì nguồn nước. New Delhi cáo buộc Islamabad thực hiện hành động "khủng bố nước" – dẫn nước cho nhiều vùng của Pakistan do xây dựng nhà máy thủy điện trên sông Ấn, tức là có âm mưu gây thiệt hại cho nền kinh tế của quốc gia láng giềng. Các nước Lào, Campuchia, Việt Nam và Thái Lan cũng phải đối mặt với vấn đề thiếu nước do Trung Quốc xây dựng 12 đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mê Kông... Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt có thể tái tạo nhưng không thể thay thế. Một khi đã mất hay suy thoái do sử dụng quá mức hoặc bị ô nhiễm, nước không thể thay thế được. Nước có vai trò thiết yếu đối với tất cả các nhu cầu của con người, gồm cả thực phẩm, nước uống, vệ sinh, sức khỏe, năng lượng và cư trú. Việc quản lý hợp lý tài nguyên nước là một trong các thách thức lớn nhất. Không có nước chúng ta không có xã hội, không có nền kinh tế, không văn hóa, văn minh và không sự sống”... “nước là một tài nguyên khan hiếm... tiếp cận nước sạch là một nội dung quan trọng, bao gồm việc cân nhắc đa chiều kinh tế - xã hội và quyền con người”...

Các tác giả nhận định, khủng hoảng nước sẽ tác động lên châu Á ở cả hai mặt thừa và thiếu. Nước biển dâng cao gây ngập lụt, ảnh hưởng trực tiếp tới số đông cư dân tập trung sinh sống tại các vùng châu thổ, như châu thổ sông Dương Tử, Hoàng Hà (Trung Quốc), sông Hằng (Ấn Độ), sông Brahmaputra (Bangladest), những con sông ở Irrawaddy (Myanmar). Bên cạnh đó, tình trạng nóng lên của Trái Đất khiến lớp băng trên đỉnh Himalaya tan nhanh, các nước Nam Á và Trung Quốc sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu nước. Dự báo của nhóm Chuyên gia Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (GIEC), đến năm 2020, sẽ có khoảng 1,2 tỷ người ở châu Á phải sống trong tình trạng thiếu nước trầm trọng. Năm 2050, năng suất lương thực của khu vực Nam Á sẽ giảm mạnh, các khu vực khác của châu Á phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo đảm năng suất lương thực. Và, khả năng tiếp cận nguồn nước giảm sẽ dẫn đến một loạt hậu quả như: hoạt động sản xuất lương thực bị suy giảm, mất an ninh và an toàn lương thực, tạo ra những bất ổn về tình hình kinh tế và địa chính trị. Những hệ quả đó sẽ có tác động sâu sắc đến an ninh toàn khu vực.

Các nghiên cứu về/hoặc liên quan đến an ninh nguồn nước ở Việt Nam đều chỉ ra tính cấp thiết về tình hình khan hiếm nước hiện nay bởi trên 60% nhu cầu nước của Việt Nam phụ thuộc vào nước quá cảnh từ các nước ở thượng nguồn. Nếu 12 dự án thủy điện của Trung Quốc trên dòng chính sông Mê Kông trở thành hiện thực sẽ biến khoảng 1/2 chiều dài dòng sông ở vùng hạ lưu thành một loạt hồ trữ nước. Nước sẽ bị lưu giữ rất lâu, có thể chảy về Campuchia và Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam muộn vài tuần đến hơn một tháng so với bình thường, hai mùa chuyển tiếp giữa mùa nước và mùa khô trên dòng Mêkông sẽ bị rút ngắn hoặc biến mất. Cá và các loài thủy sinh sẽ không còn dòng sông để sinh sản, điều này tác động rất lớn đến an ninh lương thực trong toàn vùng. ĐBSCL, đang là “điểm nóng” về BĐKH và nước biển dâng - gây tổn thương cho sinh kế của người dân. Thiên tai, nhân tai và biến đổi khí hậu đang đe dọa lớn đến nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam. Việt Nam là nước có ít lợi ích kinh tế nhưng lại có khả năng chịu các rủi ro, tổn thất lớn nhất do là quốc gia duy nhất không có thủy điện dòng chính và lại nằm ở cuối cùng của lưu vực sông. Nguồn năng lượng dự kiến nhập khẩu từ các dự án thủy điện dòng chính sông Mê Kông chỉ chiếm khoảng 5% tổng lưu lượng điện hàng năm vào năm 2020 và lợi ích này sẽ ngày càng ít hơn do nhu cầu năng lượng tăng lên. Những thiệt hại phải gánh chịu từ việc xây dựng 12 dự án thủy điện dòng chính là chưa thể tính toán hết. Trong khi đó, đánh giá môi trường chiến lược cũng như nhiều ý kiến cho rằng một số tác động lớn về dòng chảy, lượng phù sa bồi đắp, thủy sản, nông nghiệp và những tác động xã hội chắc chắn không thể tránh được.

Trong khi đó, việc sử dụng lãng phí nguồn nước hiện có đã thành thói quen của người dân, đặc biệt ở các vùng nông thôn - dùng nước giếng không phải trả tiền đã khiến cho người dân lãng phí tài nguyên mà không hề nghĩ đến hậu quả. Ở đô thị, nước bị ô nhiễm do rác thải không được thu gom hết, nước rỉ rác ngấm xuống các mạch ngầm, bên cạnh đó là hàng nghìn giếng khoan cũ bỏ hoang là đường dẫn gây ô nhiễm mạch nước ngầm. Ở nông thôn nước bị ô nhiễm do các loại hóa chất nông nghiệp, thuốc trừ sâu, nước bị nhiễm phèn, nhiễm mặn,... việc khai thác quá mức, sử dụng lãng phí nguồn nước,... trong khi nguồn nước quốc tế về hạ lưu ngày càng hiếm hoi về mùa cạn do bị chặn dòng bởi hàng chục đập thuỷ điện ở thượng nguồn,... là các nguyên nhân khiến ANNN của Việt Nam rơi vào tình trạng đáng báo động. Môi trường bị ô nhiễm trên qui mô rộng, suy thoái cục bộ, có dấu hiệu khủng hoảng là các rào cản đối với phát triển bền vững của Việt Nam. Tình trạng khan hiếm nước, nguy cơ khủng hoảng nước, những bất bình đẳng trong tiếp cận nước sạch giữa các vùng miền, các nhóm xã hội,... là những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt.

Do các đe dọa và thử thách ngày càng lớn về ANNN ở Việt Nam, các cơ quan quản lý tài nguyên và cộng đồng địa phương phải có liên kết, có cam kết chính trị và đầu tư tài chính hiệu quả trong việc kiểm kê, quy hoạch, khai thác, phân phối, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu vấn đề ANNN ở Việt Nam tiếp cận từ góc độ luật pháp, đặc biệt là luật pháp quốc tế để có thêm cơ sở pháp lý về bảo vệ nguồn nước quốc tế của Việt Nam, trong đó có bảo vệ quyền về nước của người dân là việc làm cấp thiết hiện nay.

Phạm Thị Tính

 



[1] Trích từ: Nhiệm vụ cấp viện 2015 “Vấn đề an ninh nguồn nước ở Việt Nam nhìn từ góc độ luật pháp” do Ths. Phạm Thị Tính làm chủ nhiệm.