Quyền con người ở Việt Nam – từ xã hội truyền thống đến xã hội hiện đại

11/12/2015

Trong các xã hội phong kiến ở Việt Nam, mặc dù vấn đề quyền con người không được đề cập một cách trực tiếp nhưng những tư tưởng liên quan đến quyền con người đã xuất hiện khá sớm. Tư tưởng nhân đạo yêu thương con người, vì con người được phản ánh rõ qua áng hùng văn Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi với lời thơ mở đầu “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Bên cạnh đó, tư tưởng coi trọng con người còn được thể hiện qua các quy định, điều lệ mà các triều đại phong kiến ban hành nhằm bảm đảm sự công bằng và ổn định trong đời sống của người dân.

Do trải qua một thời gian dài sống dưới ách đô hộ của giặc phương Bắc nên nhà nước phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng khá lớn của hình mẫu nhà nước kiểu Trung Quốc, đặc biệt là sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho Giáo. Tuy nhiên, khi Phật giáo vào Việt Nam, nó sớm chiếm giữ được vị trí quan trọng không chỉ trong đời sống mà còn ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và cách quản lý, điều hành xã hội của nhà nước phong kiến Việt Nam. Chữ “Nhân” trong tư tưởng của Nho giáo và sự từ bi trong tư tưởng Phật giáo được kết hợp với nhau khiến tư tưởng, tinh thần tôn trọng con người càng được đề cao và trở nên sâu sắc.

Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam đầu tiên như thời nhà Ngô, nhà Đinh, mặc dù hệ thống luật pháp chính thức chưa được ban hành nhưng triều đình có những quy định về việc sử dụng các hình phạt để răn đe, trừng trị nhằm đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội. Đến triều đại nhà Lý, bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam (Bộ hình thư) đã được ra đời (năm 1042). Dưới thời kỳ này, do Phật giáo trở thành quốc giáo nên các điều lệ trong bộ luật chủ yếu dựa trên tư tưởng của đạo đức nhà Phật để hướng thiện cho con người nhằm tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà nước và nhân dân.

Tiếp nối tư tưởng đó, triều đại nhà Trần xây dựng nên Bộ hình luật (năm 1244) để quản lý đất nước, trong đó có thêm các chính sách thưởng phạt khá phân minh. Những điều luật đó góp phần đảm bảo sự công bằng, quyền lợi và trách nhiệm của người dân, tạo dựng nên mối quan hệ gắn kết giữa chính quyền phong kiến với nhân dân, từ đó thúc đẩy sự ổn định của xã hội. Chính điều đó đã góp phần huy động được sức dân cùng nhà nước tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sang đến triều đại nhà Hồ, mặc dù nhà nước rất chú trọng việc cai quản đất nước theo đường lối pháp trị. Tuy nhiên, do đường lối còn nhiều hạn chế và đặc biệt là không tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân nên nó đã sớm bị tiêu vong.

Đến thời hậu Lê, luật pháp Việt Nam phát triển đến độ cao nhất so với các triều đại phong kiến trước đó với sự ban hành Bộ luật Hồng Đức (hay Quốc triều hình luật) của vua Lê Thánh Tông. Bên cạnh việc đề cao luật pháp, ông cũng chăm lo việc nâng cao dân trí. Theo Võ Xuân Đàn (2006), cứ ba năm, vua Lê Thánh Tông cho tổ chức một kỳ thi tiến sĩ chọn tam khôi. Trong 38 năm trị vì, vua Lê Thánh Tông đã tổ chức được 11 khoa thi Đinh, chọn được 4 đình nguyên, 9 trạng nguyên, 9 bảng nhãn, 9 thám hoa và 457 tiến sĩ. Những chính sách coi trọng việc học tập đã thúc đẩy phong trào học tập trong xã hội Việt Nam. Số người dự thi ngày một cao. Năm 1463 có 1400 người dự thi thì đến năm 1475, số người dự thi đã lên tới 3000 người.

Có thể nói, chính những điều đó đã góp phần quan trọng đối với việc đặt nền tảng văn hoá cho việc kết hợp đường lối cai trị theo cả đức trị và pháp trị. Bộ luật Hồng Đức mặc dù được ban hành trong xã hội phong kiến nhưng nó thể hiện được khá nhiều tư tưởng tiến bộ, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người dân và phần nào cho thấy sự đề cao quyền con người trong xã hội phong kiến tuy không được diễn tả một cách trực tiếp. Những nội dung tiêu biểu liên quan đến quyền con người bao gồm:

Thứ nhất, đảm bảo các quyền sống, phẩm giá của con người như:

  1. Xử tội bắt người đem bán (điều 312, 453)
  2. Xử tội giết người (từ điều 415 đến 426)
  3. Xử tội hiếp dâm (điều 403, 404)
  4. Xử tội cướp của (điều 426, 428)
  5. Xử tội vu cáo người khác: điều 501, 503, 715

Thứ hai, đảm bảo quyền của phụ nữ. Có thể nói, đây là một điểm rất đáng ghi nhận trong việc bảo vệ quyền con người nói chung, quyền phụ nữ nói riêng dưới triều đại phong kiến khi mà tư tưởng phụ quyền, trọng nam khinh nữ vẫn còn rất nặng nề. Trong luật Hồng Đức, điều 322 quy định Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu lên quan để trả đồ sính lễ. Đồng thời, luật này cũng có những điều khoản trừng phạt đối với những người chồng thiếu trách nhiệm đối với vợ. Điều 308 quy định Chồng bỏ lửng vợ 5 tháng mà không đi lại thì vợ được quyền kiện lên quan để bỏ chồng. Nếu đã có con thì cho hạn một năm. Việc quy định cho phép người vợ có quyền bỏ chồng như vậy là điều khá hiếm hoi trong các xã hội truyền thống.

Thứ ba, luật Hồng Đức cũng chú trọng tới việc bảo vệ quyền lợi cho các nhóm yếu thế, thiệt thòi trong xã hội, thể hiện tư tưởng mang tính nhân văn, nhân đạo. Điều 295 quy định Phải chăm sóc người goá vợ, goá chồng, mồ côi, tàn tật nghèo khổ không thể tự mình mưu sinh, không có người thân thích để nương tựa; Điều 379 quy định Xử tội người trưởng họ tự tiện bán đất của đứa cháu mồ côi

Bên cạnh đó, Luật Hồng Đức cũng có những điều luật trừng phạt các vị quan lại ăn hối lộ hoặc gây phiền nhiễu cho nhân dân (các điều 138, 184, 185)

Có thể nói, thông qua các điều luật, các quy định của các triều đại phong kiến, chúng ta ít nhiều thấy được tư tưởng và sự coi trọng quyền lợi của con người trong xã hội truyền thống. Nó đã phần nào thể hiện sự coi trọng và bảo vệ quyền con người. Nét đặc trưng trong tư tưởng về quyền con người ở các xã hội truyền thống là luôn gắn kết giữa quyền lợi và trách nhiệm, nâng cao ý thức về cộng đồng và cố gắng tạo dựng, củng cố mối quan hệ hài hoà giữa  nhà - làng – nước. Bên cạnh luật pháp do nhà nước ban hành, các cộng đồng làng xã ở Việt Nam cũng rất quan tâm đến lợi ích của người dân trong cộng đồng thể hiện qua việc xây dựng các hương ước và quy định riêng của làng xã. Mối quan hệ gắn kết giữa  nhà - làng – nước là nền tảng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng, sức sạnh dân tộc trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, con người trong các xã hội truyền thống không tồn tại như một thực thể cá nhân mà đó là con người xã hội, là thành viên của cộng đồng nên lợi ích của con người phải được đặt trong lợi ích của cộng đồng, dân tộc. Tư tưởng về quyền con người ở thời kỳ phong kiến chưa chú trọng tới quyền tự do cá nhân, các quyền công dân như ở châu Âu thế kỷ XVIII trở đi. Những tư tưởng này ở Việt Nam chỉ được chú trọng nhiều khi bước sang thế kỷ XIX, nhất là qua tư tưởng về quyền con người, quyền công dân của Hồ Chí Minh. Những tư tưởng về quyền công dân, quyền con người chỉ được thừa nhận và thể chế hoá khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời.

Sau khi nhà nước Việt Nam ra đời (1945), việc tổng tuyển cử đã sớm được diễn ra và đặc biệt, bản hiến pháp đầu tiên cũng được ra đời ngay một năm sau đó (1946) trong bối cảnh đất nước Việt Nam đang phải nặng gánh với tình trạng thù trong giặc ngoài. Điều đó thể hiện rõ sự thừa nhận và rất coi trọng quyền công dân của chính phủ Việt Nam. Tuy là bản hiến pháp đầu tiên nhưng nó đã thể hiện những tư tưởng rất tiến bộ về quyền con người. Những tư tưởng đó liên tục được các hiến pháp của Việt Nam sau này (hiến pháp 1958; hiến pháp 1980; hiến pháp 1992) kế thừa và phát triển. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng “Bản hiến pháp đó chưa hoàn toàn, nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp” (Hồ Chí Minh: toàn tập, tr.440). Bằng những ngôn từ giản dị nhưng thực chất, bản hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã quy định rất đầy đủ các quyền công dân phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Thứ nhất, về quyền bình đẳng, hiến pháp Việt Nam năm 1946 ghi nhận Tất cả công dân Việt Nam ngang quyền về mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá (Điều 6); bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc (Điều 7); bình đẳng giữa các dân tộc (Điều 8) và đặc biệt là bình đẳng nam nữ (điều 9). Hiến pháp thừa nhận đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Và ngay trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946, phụ nữ Việt Nam đã được thực hiện quyền công dân của mình khi lần đầu tiên họ cùng nam giới cầm phiếu đi bầu cử. Đây là điểm tiến bộ rất đáng ghi nhận của Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Đối với một nước phát triển như Mỹ, mặc dù hiến pháp của Mỹ được ban hành từ năm 1787 nhưng phải mất 133 năm sau (năm 1920), phụ nữ của Mỹ mới được pháp luật thừa nhận quyền được bầu cử (Nguyễn Đình Lộc, 2003).

Thứ hai, về quyền tự do, hiến pháp Việt Nam 1946 thừa nhận các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về tư tín, về nhà ở (điều 11); các quyền tự do ngôn luận, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú (điều 10)

Thứ ba, về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội, hiến pháp 1946 thừa nhận quyền tư hữu tài sản, đảm bảo quyền lợi cho người lao động chân tay và trí óc (điều 12, 13); đảm bảo quyền học tập, nâng cao dân trí cho người dân qua việc quy định bắt buộc người dân đi học sơ học mà không mất tiền, những người nghèo được chính phủ giúp đỡ đi học, người thiểu số đi học sơ học được học bằng tiếng địa phương (điều 15); những người già, người tàn tật không thể làm việc được giúp đỡ; trẻ em được giáo dục chăm sóc (điều 14).

Các bản hiến pháp của Việt Nam sau này với tinh thần coi trọng con người, đề cao quyền lợi của con người đã không ngừng sửa đổi, bổ sung các điều luật để phù hợp hơn với bối cảnh thực tế. Điều cần lưu ý là trong các bản hiến pháp, quyền lợi luôn được đặt song hành với nghĩa vụ của con người. Hiến pháp Việt Nam năm 1946 có 18 điều quy định về quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Các bản hiến pháp về sau cũng dành riêng một chương cho điều này, và các điều quy định luôn được bổ sung thêm: Hiến pháp năm 1958 có 21 điều (từ điều 22 đến 43); Hiến pháp năm 1980 có 29 điều (từ điều 53 đến 81); Hiến pháp năm 1992 có 34 điều (từ điều 49 đến 82). Mỗi hiến pháp về sau là sự kế thừa và phát triển các nội dung từ những hiến pháp trước đó (Nguyễn Đình Lộc, 2003: tr.144). Hiến pháp mới nhất của Việt Nam ra đời năm 2013 đã có một số điều chỉnh so với Hiến pháp năm 1992, trong đó, chương V của bản Hiến pháp 1992 với nhan đề: “Quyền và nghĩa vụ của công dân” đã được chuyển thành: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” (bao gồm 35 điều, từ điều 14 đến điều 49) và chuyển lên ở vị trí chương II ngay sau chương I về “Chế độ chính trị”. Điều này thể hiện sự chú trọng đến quyền con người của Việt Nam trong bối cảnh đương đại.

Trong bối cảnh thế giới đang giương cao ngọn cờ nhân quyền như hiện nay, vấn đề về Quyền con người luôn được Đảng và nhà nước Việt Nam quan tâm. Bên cạnh hiến pháp, Việt Nam cũng sớm tham gia ký kết thực hiện các công ước, điều khoản của luật pháp quốc tế liên quan tới việc đảm bảo quyền con người.

  • Ngày 24 – 9 – 1982: Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa;
  • Ngày 19 – 3 – 1982: Việt Nam phê chuẩn công ước chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW);
  • Ngày 20 – 2 – 1990: Việt Nam phê chuẩn công ước về Quyền trẻ em (CRC)

Ngoài ra, Nhà nước Việt Nam cũng ban hành các điều luật, các chính sách nhằm đảm bảo quyền lợi cho người dân nói chung và cho các nhóm xã hội đặc biệt nói riêng (phụ nữ, người già, trẻ em, người khuyết tật). Cụ thể, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật chăm sóc chăm sóc và bảo vệ trẻ em; Pháp lệnh về người tàn tật; Luật bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình và chuẩn bị ban hành Pháp lệnh về chăm sóc người già. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cũng có những chính sách nhằm đảm bảo dân sinh, dân trí và dân khí qua các chương trình, chính sách về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo; chính sách về cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục, đa dạng hóa các hình thức giáo dục để mọi người có cơ hội được học tập; các chính sách về chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội v.v.. Tất cả những điều đó góp phần đảm bảo quyền và sự phát triển một cách toàn diện cho con người. 

Vũ Thanh

Tài liệu tham khảo:

Nguyễn Hữu Chí, Bước đầu tìm hiểu tư tưởng về quyền con người trong lịch sử Việt Nam (trong kỷ yếu hội thảo đề tài KX-07-16 Các điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong công cuộc đổi mới đất nước thuộc chương trình KH-CN KX 07).

Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính tri Quốc gia, 2000.

Vũ Khiêu, Quyền công dân trong truyền thống Việt Nam (trong Toàn cầu hóa và quyền công dân Việt Nam nhìn từ khía cạnh văn hóa do Trần Văn Bính chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, 2003.

Nguyễn Đình Lộc, Quyền công dân Việt Nam – sự ra đời và phát triển trong quá trình hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay (trong Toàn cầu hoá và quyền công dân ở Việt Nam. Nhìn từ khía cạnh văn hoá do Trần Văn Bính chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, 2003.