Đảm bảo quyền để giảm thiểu rủi ro bị tổn thương cho phụ nữ

11/12/2015

            Để giảm thiểu rủi ro và nguy cơ bị tổn thương cho phụ nữ thì việc tăng cường năng lực cho phụ nữ thông qua đảm bảo quyền con người, đặc biệt là quyền phụ nữ, là vấn đề rất cần thiết. Phụ nữ có đầy đủ các quyền con người. Tuy nhiên, do phụ nữ là một nhóm yếu thế trong xã hội nên một số quyền của phụ nữ rất được quan tâm, đề cao để đảm bảo cho họ có cơ hội và năng lực vươn lên trong xã hội. Các quyền của phụ nữ thường được chú ý tới gồm các quyền được an toàn về thân thể, các quyền chính trị (như quyền bầu cử); các quyền kinh tế (như có việc làm, được trả lương công bằng, quyền có tài sản riêng); các quyền văn hoá (như quyền được giáo dục); các quyền xã hội (như quyền có hôn nhân, quyền làm mẹ, quyền được sinh sản, quyền có tôn giáo) và nhiều quyền khác như quyền được thực hiện các hợp đồng pháp lý, thậm chí cả quyền được phục vụ trong quân đội.

            Đảm bảo quyền để thúc đẩy sự phát triển của phụ nữ là vấn đề rất được thế giới quan tâm. Năm 1946, Liên hợp Quốc đã thành lập Uỷ ban về địa vị của phụ nữ; Năm 1948, Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hợp Quốc ra đời cũng chỉ rõ quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới và đề cập tới các vấn đề về công bằng, bình đẳng. Từ năm 1975, Liên hợp quốc tổ chức hàng loạt hội thảo thế giới về các vấn đề phụ nữ, bắt đầu bằng hội thảo thế giới về “Năm phụ nữ thế giới” (International women’s year) ở thành phố Mexico. Các hội thảo đã tạo ra diễn đàn thế giới vì quyền phụ nữ. Đặc biệt, năm 1979, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW). Điều đó cho thấy đảm bảo quyền phụ nữ là vấn đề quan tâm chung của toàn thế giới bởi lẽ đảm bảo sự công bằng, bình đẳng về giới vừa là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển con người, vừa là một trong những mục tiêu mà phát triển con người cần hướng tới. Tại Hội nghị về quyền con người diễn ra năm 1993, có 171 nước trên thế giới đã cam kết thừa nhận việc phụ nữ và nam giới cùng có các quyền con người như nhau là một nguyên tắc mang tính toàn cầu. Sự bình đẳng này bao gồm một số chiều cạnh như: 

  • Bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm giáo dục và y tế
  • Cơ cơ hội như nhau trong việc tham gia vào các quyết định kinh tế và chính trị
  • Được hưởng thành quả như nhau đối với các công việc giống nhau
  • Được bảo vệ như nhau trước pháp luật
  • Chống lại tất cả mọi sự phân biệt về giới và bạo lực đối với phụ nữ
  • Phụ nữ và nam giới có quyền như nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ở nơi làm việc cũng như ở gia đình.

Phụ nữ là một nguồn lực lao động rất lớn trong xã hội. Nếu phát huy được nguồn lực dồi dào đó thì nó sẽ đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng bất bình đẳng giới vẫn là một thách thức lớn đối với cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển. Một trong những rào cản ảnh hưởng tới vị thế của phụ nữ đó là do họ không có được nguồn lực một cách đầy đủ và công bằng để phát triển. Sự hạn chế về nguồn lực  đối với có thể kể tới bao gồm sự thiếu hụt tài sản và giáo dục. Chính những điều này đã cản trở khả năng phát triển của phụ nữ.

Tài sản trong mối quan hệ với giảm thiểu khả năng bị tổn thương của phụ nữ nên  được hiểu theo nghĩa rộng hơn chứ không chỉ giới hạn nó ở những tài sản kinh tế đơn thuần. Báo cáo phát triển con người 1997 (UNDP) đã chỉ ra có ba loại tài sản cơ bản được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường và cá nhân, trong đó dễ dàng nhận thấy có hai loại tài sản có ảnh hưởng trực tiếp tới việc giảm nguy cơ bị tổn thương cho phụ nữ. Thứ nhất là các tài sản kinh tế bao gồm đất đai, vật nuôi, nhà ở, vốn lao động và vốn tài chính – những loại tài sản cung cấp nền tảng để tạo ra thu nhập và sản xuất. Có tài sản là một quyền được pháp luật quốc tế thừa nhận. Sự hạn chế phụ nữ trong việc tiếp cận, kiểm soát các tài sản không chỉ là một hình thức xâm hại quyền của phụ nữ. Hơn thế, nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển năng lực của phụ nữ bởi lẽ thiếu hụt tài sản kinh tế sẽ hạn chế các điều kiện tiên quyết để phụ nữ tiếp cận các dịch vụ về y tế, văn hoá, giáo dục. Đến lượt mình, sự hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ đó sẽ hạn chế khả năng của phụ nữ; Thứ hai là các tài sản xã hội và chính trị - đó là khả năng để con người thiết lập các mối quan hệ với những người khác, đặc biệt khi trao đổi với nhau. Người ta còn gọi loại tài sản xã hội và chính trị đó là vốn xã hội. Trong xã hội hiện đại, vốn xã hội là một loại vốn rất quan trọng. Một ví dụ đơn giản là khi gặp khó khăn (về vật chất hoặc tinh thần), nếu thiếu hụt loại tài sản vốn xã hội hay không có đủ các mối quan hệ xã hội sẽ khiến phụ nữ gặp nhiều bất lợi trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ.

Quyền được giáo dục là quyền được thừa nhận trong các quyền của con người và của phụ nữ. Tuy nhiên, sự hạn chế về kinh tế sẽ khiến phụ nữ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các loại hình dịch vụ giáo dục, đặc biệt là những dịch vụ giáo dục chất lượng cao. Thêm vào đó, tư tưởng lạc hậu trọng nam khinh nữ khiến nhiều gia đình có xu hướng muốn đầu tư học tập cho con trai hơn con gái. Đó cũng là một rào cản cho sự phát triển về giáo dục của phụ nữ. Từ việc không được đảm bảo quyền giáo dục đầy đủ như nam giới, phụ nữ phải đối mặt với khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, nhất là những việc làm có vị thế và thu nhập cao. Sự thấp kém về giáo dục cũng hạn chế khả năng của phụ nữ trong việc tiếp cận và khai thác các nguồn lực. Hơn thế, giáo dục không đầy đủ còn làm hạn chế khả năng và sự tự tin của phụ nữ trong quá trình tham gia đời sống kinh tế, chính trị và xã hội.

                  Cũng trong Báo cáo phát triển con người 1997, UNDP một lần nữa xác nhận vai trò của việc cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới đối với phát triển con người. Báo cáo đã chỉ ra rằng phụ nữ là những người có vai trò đầu tiên trong hộ gia đình và cộng đồng để giảm nghèo và đối mặt với những tác động nghèo. Tuy nhiên, phụ nữ thường không có tiếng nói trong các quyết định ở hộ gia đình, cộng đồng, trên vũ đài quốc gia và thế giới.  Bình đẳng giới cần trở thành một phần trong chiến lược giảm nghèo của mỗi quốc gia. Để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới, phương thức mà Báo cáo phát triển con người 1997 đưa ra đó là:

  • Tập trung để chấm dứt sự phân biệt chống lại trẻ em gái trong tất cả các lĩnh vực sức khoẻ, giáo dục, nuôi dưỡng – khởi nguồn của sự tồn tại bất bình đẳng giới;
  • Trao quyền cho phụ nữ bằng cách đảm bảo quyền như nhau và tiếp cận với đất đai, tài chính, cơ hội việc làm;
  • Tiến hành hơn nữa các hành động nhằm chấm dứt bạo lực đối vợi phụ nữ - một hiện tượng khá phổ biến nhưng còn bị che dấu của tình trạng nghèo mang tính nhân văn (human poverty).

UNDP (1997) một lần nữa khẳng định lại thông điệp trong Báo cáo phát triển con người 1995, theo đó, thật nguy hiểm nếu phát triển không không gắn với yếu tố giới; và nếu chiến lược giảm nghèo không gắn với việc trao quyền cho phụ nữ thì sẽ thất bại trong việc trao quyền cho xã hội.

Vũ Thanh

Tài liệu tham khảo:

Liên Hợp Quốc, Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ

UNDP, 1995, Human Development Report 1995, Gender and Human Development

UNDP, 1997, Human Development Report 1997, Human Development to Eradicate Poverty