Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Quyền con người

01/12/2015

Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về Quyền con người được hình thành trong bối cảnh lịch sử đất nước và thế giới có nhiều biến động lớn. Trong giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản, đó là mâu thuẫn giữa thực dân, phong kiến tay sai với dân tộc Việt Nam và mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam với giai cấp địa chủ phong kiến. Trong hoàn cảnh đó, người dân phải sống trong cảnh lầm than khổ cực. Họ bị xâm hại về thân thể và nhân phẩm, bị tước đoạt mọi quyền kinh tế, chính trị và xã hội.

Giai đoạn lịch sử này cũng có nhiều sự kiện lớn xảy ra trên thế giới, đặc biệt là sự thành công của cách mạng tháng Mười Nga (1917) và sự thành lập Quốc tế Cộng Sản III (1919). Hai sự kiện đó có ảnh hưởng rất lớn tới tư tưởng và con đường của Hồ Chí Minh, tạo điều kiện thuận lợi để Người ra nhập Đảng Cộng Sản Pháp. Chính điều đó giúp Người tiếp cận và hoạt động với các nhà chính trị, văn hoá nổi tiếng của Pháp. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về Quyền con người không chỉ xuất phát từ truyền thống yêu thương, quý trọng con người của dân tộc Việt Nam mà hơn thế, nó là sự kết hợp những giá trị nhân văn của phương Đông và phương Tây. Trong tư tưởng của Người không chỉ có chữ Nhân của Nho giáo, sự từ bi hỷ xả của Phật giáo mà có cả những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng, bác ái của phong trào Khai sáng và tinh thần giải phóng con người triệt để của chủ nghĩa Mác. Hồ Chí Minh tiếp cận Quyền con người từ địa vị của người nô lệ mất nước đang tìm đường giải pháp, đấu tranh giành lại quyền cơ bản của con người và của toàn dân tộc. Vì thế, Người đã đi từ Quyền tự nhiên của con người đến Quyền tự quyết của các dân tộc; từ Quyền tư hữu, Quyền tự do của cá nhân đến các Quyền dân sinh, dân trí, dân chủ của cả cộng đồng; từ nhận thức về Quyền con người đến cơ chế bảo đảm hiện thực hoá các quyền đó trong thực tế (Phạm Ngọc Anh, 2005).

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về Quyền con người không chỉ dừng lại ở lý luận thuần tuý mà nó thể hiện rõ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong quá trình lãnh đạo xây dựng đất nước của Người. Trong các bài viết của Người về “Yêu sách của nhân dân An Nam”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Hồ Chí Minh đã tố cáo tình trạng thực dân Pháp xâm phạm đến các quyền của người dân ở các nước thuộc địa. Đến Tuyên ngôn độc lập, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người được phát triển và thể hiện càng sâu sắc. Tuyên ngôn được mở đầu bằng sự khẳng định lại từ Tuyên ngôn độc lập 1976 của Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Hồ Chí Minh cũng khẳng định rõ trong Tuyên ngôn độc lập rằng “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Ngay sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập thành lập nhà nước, Người đã tổ chức họp Hội đồng chính phủ, xác định 6 nhiệm vụ cấp bách mà nhà nước mới ra đời cần giải quyết. Ba trong sáu nhiệm vụ đó đều có liên quan mật thiết đến việc đảm bảo Quyền con người cho người dân, đó là chống đói (dân sinh); chống dốt (dân trí) và tổ chức tổng tuyển cử (dân quyền) (Vũ Khiêu, 2003). Sau này, trong quá trình lãnh đạo nhà nước và dân tôc Việt Nam, qua các bài viết và hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã cụ thể và hiện thực hoá các quyền của con người (quyền Dân sự chính trị, các quyền về Kinh tế, văn hoá, xã hội) vào bối cảnh xã hội Việt Nam.

Thứ nhất, đối với quyền Dân sự chính trị, điều dễ nhận thấy nhất trong quan điểm của Hồ Chí Minh đó là tư tưởng lấy dân làm gốc. Quan điểm quý trọng dân của các nhà Nho trước đây là lấy dân làm gốc (Dân vi bản), coi dân là thứ quý giá (Dân vi quý) chủ yếu xuất phát từ góc độ ý thức đạo đức. Còn đối với Hồ Chí Minh, quan điểm lấy dân làm gốc được thể hiện ở chỗ coi dân chính là người chủ đất nước, là “công dân” với đầy đủ ý nghĩa của nó, gồm cả nhân quyền và dân quyền chứ không phải là “con dân”. Như vậy, quan điểm lấy dân làm gốc từ ý thức đạo đức đã được phát triển thành ý thức chính trị, thành nguyên tắc pháp trị (Phạm Ngọc Anh, 2005, tr.87). Chính Người đã từng khẳng định rõ ý nghĩa của việc lấy dân làm gốc cũng quan trọng như cái cây cần có gốc rễ để tồn tại và phát triển: “Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5: tr.440).

Để đảm bảo quyền Dân sự chính trị của người dân, ngay một năm sau khi thành lập nhà nước, Người đã chỉ đạo việc tổ chức tổng tuyển tự do và soạn thảo hiến pháp. Đấy là cơ sở quan trọng để đảm bảo sự tự do, dân chủ cho người dân. Bản hiến pháp này được xác định xây dựng trên ba nguyên tắc: (1) Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; (2) Đảm bảo mở rộng các quyền tự do, dân chủ; (3) Thực hiện quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân (Phạm Ngọc Anh, 2005, tr.57). Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng chú trọng tới quyền của người dân được tham gia vào quản lý, xây dựng đất nước. Điều này hoàn toàn phù hợp với nội dung được ghi nhận tại điều thứ 21 trong Tuyên ngôn về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc (thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948). Theo đó, người dân có quyền tham gia quản lý đất nước một cách trực tiếp hoặc qua đại biểu trung gian do dân tự do bầu ra; có quyền như nhau tham gia phục vụ đất nước và ý chí của dân phải trở thành cơ sở của quyền lực chính phủ (Nguyễn Quốc Hùng, 1992, tr.40).

Thứ hai, các quyền Kinh tế, văn hoá, xã hội của con người cũng được Hồ Chí Minh coi trọng. Điều thứ 12 trong bản hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam năm 1946 đã khẳng định rõ quyền Kinh tế của con người. Theo đó, người dân được đảm bảo quyền tư hữu về tài sản. Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước còn đang đối mặt với nhiều khó khăn, việc chú trọng chống lại giặc dốt, nâng cao dân trí cho người dân không chỉ thể hiện sự coi trọng quyền văn hoá (quyền được giáo dục) mà nó cũng thể hiện tinh thần nhân văn cao đẹp ở Người. Việc đảm bảo thực hiện những quyền đó được thể hiện một cách giản dị nhưng dễ hiểu và dễ đi vào lòng người dân:

Những người đã biết chữ thì dạy cho những người biết chữ... Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo, người giàu có thì mở lớp ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ở làng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà máy thì mở lớp học cho những người tá điền, những người làm của mình” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, tr. 36 – 37)

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng chú trọng tới quyền của các nhóm yếu thế như quyền của nhóm dân tộc thiểu số, của phụ nữ, người già và trẻ em. Đối với quyền của các dân tộc thiểu số, người luôn khẳng định Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc; các dân tộc đó đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Các dân tộc có quyền giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình. Các dân tộc thiểu số được nhận sự giúp đỡ ở mọi mặt để phát triển kịp miền xuôi. Đối với phụ nữ, việc thừa nhận phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới (điều 9, hiến pháp 1946) đã thể hiện tư tưởng tiến bộ của nhà nước Việt Nam mà Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ. Người cũng đưa ra việc giải phóng phụ nữ cần phải gắn liền với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giái phóng giai cấp và giải phóng con người. Đối với trẻ em và người già, Hồ Chí Minh chú trọng tới quyền được bảo vệ, chăm sóc của nhóm đối tượng này. Đặc biệt, Người coi trẻ em chính là chủ nhân tương lai của đất nước. Bởi vậy, công tác giáo dục trẻ em là điều rất được Hồ Chí Minh coi trọng.

Nhìn chung, quan điểm của Hồ Chí Minh về các quyền cơ bản của con người thể hiện tư tưởng rất tiến bộ và nhân văn. Việc thực hiện các quyền đó đảm bảo cho con người được tự do, dân chủ và được phát đầy đủ, toàn diện cả về sinh lực, trí lực và nhân cách, đồng thời, cân bằng được mối quan hệ hài hoà giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa lợi ích của cá nhân vơi lợi ích của tập thể, của cộng đồng và của dân tộc.

Vũ Thanh

Tài liệu tham khảo:

  1. Phạm Ngọc Anh (chủ biên), 2005, Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia.
  2. Nguyễn Quốc Hùng, 1992, Liên Hợp Quốc, Nxb Lý luận thông tin.
  3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính tri Quốc gia, 2000
  4. Vũ Khiêu, 2003, Quyền công dân trong truyền thống Việt Nam (trong Toàn cầu hóa và quyền công dân Việt Nam nhìn từ khía cạnh văn hóa do Trần Văn Bính chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia.