Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2014

15/09/2014
Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2014 có chủ đề "Duy trì thành quả phát triển con người: Giảm thiểu nguy cơ tổn thương và tăng cường khả năng chống chịu, phục hồi"

Chủ đề Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2014[1] là: "Duy trì thành quả phát triển con người: Giảm thiểu nguy cơ tổn thương và tăng cường khả năng chống chịu, phục hồi." Báo cáo khẳng định[2]: … Phần lớn nhân loại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã và đang đạt được những thành tựu vững chắc về phát triển con người. Những bước tiến về công nghệ, giáo dục và thu nhập đã đem lại tiềm năng lớn chưa từng có về cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và ổn định hơn. Tuy nhiên, trong thế giới hiện nay cũng còn tồn tại những lo lắng thường trực về tình trạng bất ổn - về sinh kế, về an sinh ở cấp độ cá nhân, môi trường, và tình hình chính trị toàn cầu. Những thành tựu lớn trong các lĩnh vực mang tính quyết định đối với phát triển con người như y tế và dinh dưỡng có thể nhanh chóng bị hủy hoại bởi một thảm họa thiên nhiên hay suy thoái kinh tế. Tiến bộ thực sự về phát triển con người không chỉ là việc mở rộng những sự lựa chọn mang tính quyết định của con người và khả năng con người được giáo dục, có sức khỏe tốt, có mức sống phù hợp và cảm thấy an toàn. Đó còn là việc những thành tựu này vững chắc đến đâu và liệu có đủ các điều kiện để phát triển con người một cách bền vững hay không. Xem xét về tiến bộ trong phát triển con người sẽ không đầy đủ nếu thiếu việc tìm hiểu và đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của con người.

Báo cáo lưu ý rằng: Tiến bộ phải theo hướng khuyến khích phát triển con người có khả năng chống chịu, phục hồi cao. Báo cáo nhấn mạnh vào khả năng chống chịu, phục hồi của con người là phải đảm bảo con người có những lựa chọn đa dạng, trong hiện tại và tương lai, và cho phép họ đối phó và thích ứng với các tình huống bất lợi. 

Theo Báo cáo, những người phải sống trong nghèo đói và thiếu thốn cùng cực thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Thế giới vẫn còn hơn 2,2 tỉ người là người nghèo hoặc cận nghèo đa chiều - có nghĩa là hơn 15% dân số vẫn trong tình trạng dễ bị tổn thương, gần 80% dân số toàn cầu không được hưởng bảo trợ xã hội toàn diện, khoảng 12% (842 triệu người) hứng chịu nạn đói kinh niên, và gần một nửa trong tổng số lao động – tức là hơn 1,5 tỉ người – chỉ có việc làm không chính thức hoặc tạm thời, bấp bênh. Những người có năng lực cơ bản hạn chế, chẳng hạn về mặt giáo dục và sức khỏe, sẽ ít có khả năng sống theo cách họ muốn một cách dễ dàng. Lựa chọn của họ có thể bị giới hạn hoặc cản trở bởi các rào cản xã hội và các tập quán mang tính phân biệt đối xử. Năng lực hạn chế cùng với việc lựa chọn bị giới hạn ngăn cản họ ứng phó với các hiểm họa. Trong những giai đoạn nhất định của vòng đời, năng lực có thể bị hạn chế do không được đầu tư và chú ý đúng mức tại những thời điểm thích hợp, làm cho tình trạng dễ bị tổn thương tích tụ và trầm trọng thêm.

Đói nghèo thường xuyên làm gián đoạn quá trình phát triển bình thường ở tuổi ấu thơ – hơn 1/5 trẻ em ở các quốc gia đang phát triển sống trong tình trạng nghèo về thu nhập tuyệt đối và dễ lâm vào tình trạng suy dinh dưỡng. Tại các quốc gia đang phát triển (nơi sinh sống của 92% trẻ em), cứ trong 100 trẻ thì có 7 trẻ không sống được quá 5 tuổi, 50 trẻ không được đăng kí khai sinh, 68 trẻ không được hưởng giáo dục mầm non, 17 trẻ không được học tiểu học, 30 trẻ bị còi xương và 25 trẻ sống trong tình trạng nghèo. Thiếu lương thực, thực phẩm và các thiết bị vệ sinh làm tăng nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh và còi xương: gần 156 triệu trẻ em bị còi xương do thiếu dinh dưỡng và lây bệnh truyền nhiễm. Thiếu dinh dưỡng góp phần gây ra 35% trường hợp tử vong do sởi, sốt rét, viêm phổi, và tiêu chảy. Tác động sẽ là lớn nhất nếu sự thiếu thốn này xảy ra ở giai đoạn ấu thơ. Giai đoạn thanh thiếu niên - từ 15 đến 24 tuổi - là giai đoạn chuyển đổi then chốt để trẻ học cách hòa nhập vào xã hội và thế giới việc làm. Tại rất nhiều quốc gia, số lượng người trẻ tuổi đang tăng lên. Người trẻ trên khắp thế giới đặc biệt dễ bị phân biệt đối xử trên thị trường lao động do họ thiếu kinh nghiệm làm việc, quan hệ xã hội, khả năng tìm kiếm việc làm và nguồn lực tài chính để tìm việc làm. Vì vậy, họ nhiều khả năng rơi vào tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc chỉ được làm các công việc mang tính thời vụ. Tỉ lệ thất nghiệp trong nhóm thanh niên toàn cầu năm 2012 ước tính là 12,7% - gấp gần ba lần tỉ lệ ở người trưởng thành.

Tình trạng nghèo và bị loại trừ xã hội là những vấn đề mà người cao tuổi gặp phải, nhất là trong bối cảnh khoảng 80% người cao tuổi trên thế giới không có lương hưu và chỉ sống dựa vào gia đình và khả năng lao động của bản thân. Và khi con người già đi, nhìn chung họ trở nên dễ bị tổn thương cả về mặt thể chất, tinh thần và kinh tế. Tình trạng nghèo ở tuổi già thường dai dẳng hơn, do thiếu cơ hội kinh tế và thiếu sự ổn định trong cuộc sống từ trước đó tích lũy lại gây nên tình trạng dễ bị tổn thương ở tuổi già. Những bất lợi tích lũy lại từ giai đoạn trước của cuộc đời cũng ngầm cho thấy tình trạng đói nghèo được truyền từ đời này sang đời khác. Nếu các thể chế xã hội và pháp luật, các cấu trúc quyền lực, không gian chính trị, hoặc các quy tắc truyền thống và các chuẩn mực văn hóa xã hội không đối xử bình đẳng với mọi thành viên trong xã hội - và nếu chúng tạo ra các rào cản mang tính cấu trúc cho một số người hoặc nhóm người trong việc thực hiện các quyền và lựa chọn của họ - thì chúng sẽ làm gia tăng tình trạng dễ bị tổn thương cấu trúc. Tình trạng dễ bị tổn thương cấu trúc thường được thể hiện qua sự bất bình đẳng sâu sắc và tình trạng nghèo trên diện rộng, liên quan tới tình trạng bất bình đẳng theo chiều ngang hoặc bất bình đẳng nhóm dựa trên các hội nhóm được xã hội thừa nhận và thiết lập. Người nghèo, phụ nữ, các nhóm người thiểu số (theo dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, người nhập cư hoặc theo giới tính), người bản địa, những người ở vùng nông thôn hoặc vùng sâu vùng xa hoặc người khuyết tật, và các quốc gia bị bao bọc bởi đất liền hoặc hạn chế về nguồn tài nguyên thiên nhiên có xu hướng phải đối mặt với nhiều rào cản hơn, đôi khi do bản chất pháp lý, trong việc xây dựng năng lực, thực hiện các lựa chọn của mình và đòi hỏi quyền được trợ giúp và bảo vệ trong trường hợp có các cú sốc xảy ra.

Sự bất ổn của những đối tượng phải đối mặt với tình trạng dễ bị tổn thương cấu trúc đó phát triển và duy trì trong thời gian dài và tạo ra sự phân chia - về giới tính, dân tộc, chủng tộc, nghề nghiệp và địa vị xã hội – mà không dễ dàng vượt qua được. Những người dễ bị tổn thương cấu trúc có thể có năng lực như những người khác nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản hơn để vượt qua được những điều kiện bất lợi. Chẳng hạn, người khuyết tật thường khó tiếp cận các phương tiện giao thông công cộng, các cơ quan nhà nước và những địa điểm công cộng khác như bệnh viện, do vậy họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tham gia vào đời sống kinh tế, xã hội và chính trị - hoặc trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ khi phải đối mặt với các nguy cơ về sức khỏe thể chất. Nhiều người phải đối mặt với các rào cản cấu trúc chồng chất làm kìm hãm khả năng ứng phó của họ - ví dụ, người nghèo thuộc nhóm dân tộc thiểu số, hay phụ nữ bị khuyết tật. Ba phần tư người nghèo trên thế giới sống ở khu vực nông thôn, nơi có tỉ lệ nghèo trong lao động nông nghiệp ở mức cao nhất. Họ bị mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn của năng suất thấp, thất nghiệp mang tính thời vụ và mức lương thấp và đặc biệt dễ bị tổn thương với những điều kiện thời tiết thay đổi. Những nhóm dân tộc và tôn giáo thiểu số bị tước đoạt quyền công dân dễ bị tổn thương trước các tập quán mang tính phân biệt đối xử, khó tiếp cận với hệ thống tư pháp chính thống và phải gánh chịu hậu quả của sự đàn áp và định kiến trong quá khứ. Và trong khi người bản địa chỉ chiếm 5% dân số toàn cầu thì họ lại chiếm khoảng 15% trong tổng số người nghèo trên thế giới, trong đó một phần ba sống trong tình trạng nghèo cùng cực ở khu vực nông thôn. Trên phạm vi toàn cầu, hơn 46% người ở độ tuổi 60 trở lên phải sống trong tình trạng ốm yếu, phải đối mặt với những thử thách khốc liệt, được bồi đắp bởi chính thái độ phân biệt đối xử của xã hội để có thể tham gia đầy đủ vào đời sống xã hội.

 Dựa trên các quan điểm chi phối phát triển con người và khuyến khích các cơ hội sống bình đẳng, Báo cáo đề xuất bốn nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường khả năng chống chịu, phục hồi:

1) Mọi cá nhân đều quý giá như nhau và đều có quyền được bảo vệ và hỗ trợ. Do đó cần thừa nhận rằng những người phải đối mặt với nhiều rủi ro và hiểm họa nhất, như trẻ em hoặc người khuyết tật, phải nhận được nhiều sự trợ giúp hơn để đảm bảo rằng cơ hội cuộc sống của họ là bình đẳng với những người khác. Theo đó có thể yêu cầu các cá nhân phải có các quyền và nhận được sự chăm sóc khác nhau. Xem xét tới tính bình đẳng cho tất cả mọi người đòi hỏi phải có sự quan tâm đặc biệt cho những đối tượng bị thiệt thòi.

2) Đặt con người lên hàng đầu: Giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương là nhắc lại thông điệp về phát triển con người “Đặt con người lên hàng đầu”- đã được truyền đi liên tục trong tất cả các Báo cáo phát triển con người kể từ năm 1990. Tất cả các chính sách công, đặc biệt là các chính sách kinh tế vĩ mô, phải được xem là phương tiện để đạt được mục đích, bản thân các chính sách không phải là mục đích cuối cùng. Các nhà hoạch định chính sách phải tự đặt ra một số câu hỏi cơ bản: Liệu tăng trưởng kinh tế có cải thiện được cuộc sống của con người ở các khía cạnh thực sự quan trọng - từ y tế, giáo dục và thu nhập đến an toàn cá nhân và tự do cá nhân cơ bản không? Con người có cảm thấy dễ bị tổn thương hơn không? Có đối tượng nào bị bỏ rơi không? Và, nếu có, đó là những ai, và cách tốt nhất để giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương và bất bình đẳng đó là gì?

3) Cam kết hành động tập thể: Đối phó với những thách thức ngày nay đòi hỏi phải có các hành động tập thể. Khi con người cùng hành động, họ kết nối các năng lực và lựa chọn cá nhân để cùng vượt qua hiểm họa, và khả năng chống chịu, phục hồi của con người khi được kết hợp lại sẽ giúp tăng cường tiến trình phát triển và khiến các tiến bộ đạt được trở nên bền vững hơn. Tương tự như trong trường hợp các quốc gia cùng hành động thông qua việc cung cấp các hàng hóa công cộng toàn cầu để giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương trước các mối đe dọa xuyên quốc gia. Mặc dù xung quanh chúng ta còn nhiều bất ổn, nhưng có một điều dường như rất rõ ràng: Để công chúng có một tầm nhìn tích cực về tương lai phụ thuộc rất nhiều vào việc cung cấp thành công các hàng hóa công cộng, cả trong nước và toàn cầu.

4) Phối hợp giữa các quốc gia, và thể chế xã hội: Các cá nhân không thể tự phát triển, họ không thể hoạt động một mình. Khi con người được sinh ra, họ được gia đình chăm sóc. Đến lượt mình, gia đình cũng không thể hoạt động độc lập với xã hội. Các chính sách nhằm cải thiện các quy tắc xã hội, gắn kết xã hội và năng lực xã hội là rất quan trọng để giúp chính phủ và các thể chế xã hội phối hợp hành động nhằm giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương. Khi thị trường và các hệ thống tự nó tạo ra tình trạng dễ bị tổn thương thì chính phủ và các thể chế xã hội phải hướng thị trường giảm thiểu tình trạng đó, giúp người dân thoát khỏi nó.

Xung đột và cảm giác bất ổn ở từng cá nhân gây nên những tác động tiêu cực trên diện rộng đến sự phát triển con người và khiến hàng tỉ người phải sống trong những hoàn cảnh bấp bênh. Nhiều quốc gia đang phải đương đầu với tình trạng bạo lực vũ trang. Hơn 1,5 tỉ người đang sinh sống ở các quốc gia chịu ảnh hưởng của xung đột – chiếm khoảng một phần năm dân số toàn cầu. Và tình hình bất ổn chính trị gần đây đã gây ra tổn thất to lớn về con người – khoảng 45 triệu người buộc phải di chuyển chỗ ở do xung đột hoặc khủng bố tính đến cuối năm 2012 – con số cao nhất trong vòng 18 năm – trong đó hơn 15 triệu người phải đi tị nạn.

Báo cáo nhấn mạnh đến việc Xây dựng khả năng chống chịu, phục hồi: Khả năng chống chịu, phục hồi chính là nền tảng cho bất kỳ phương pháp tiếp cận nào nhằm đảm bảo và duy trì sự phát triển của con người. Điểm mấu chốt của khả năng chống chịu, phục hồi là phải đảm bảo rằng chính phủ, cộng đồng và các thể chế toàn cầu trao quyền cho con người và bảo vệ con người. Phát triển con người đòi hỏi phải xóa bỏ các rào cản đang ngăn cản con người được tự do hành động. Đó là tạo điều kiện cho những người bị thiệt thòi và bị cô lập khỏi xã hội được thực hiện các quyền của họ, được chia sẻ những mối quan tâm của họ một cách cởi mở, được lắng nghe và được chủ động quyết định số phận của chính họ. Đó là việc con người được tự do sống cuộc sống mà mình mong ước và được tự do giải quyết những vấn đề của bản thân một cách phù hợp. Báo cáo đã nhấn mạnh vào một số chính sách, nguyên tắc và biện pháp chủ chốt để xây dựng khả năng chống chịu, phục hồi – để tăng cường sự lựa chọn, mở rộng vai trò của con người và thúc đẩy năng lực xã hội. Việc đạt được và duy trì những tiến bộ về phát triển con người phụ thuộc vào hiệu quả của việc chuẩn bị và ứng phó khi các cú sốc xảy ra.

-Việc phổ cập các dịch vụ xã hội cơ bản – giáo dục, y tế, nước sạch và vệ sinh môi trường, và an ninh công cộng – dựa trên nền tảng là mọi người phải có quyền được sống theo cách mình mong muốn và khả năng tiếp cận các yếu tố cơ bản của một cuộc sống có chất lượng không gắn liền với khả năng chi trả của con người. Phổ cập các dịch vụ xã hội cơ bản có thể nâng cao năng lực xã hội và giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương cấu trúc. Nó có thể có sức mạnh to lớn trong việc cân bằng cơ hội và kết quả. Các chính sách phổ cập cũng thúc đẩy đoàn kết xã hội do tránh được các nhược điểm của chính sách mục tiêu - sự kỳ thị của xã hội đối với người tiếp nhận chính sách và sự phân hóa trong chất lượng dịch vụ, cũng như thất bại trong việc tiếp cận nhiều đối tượng dễ bị tổn thương.

Quan niệm sai lầm là chỉ có các quốc gia thịnh vượng mới có đủ điều kiện thực hiện các chính sách bảo trợ xã hội hoặc phổ cập các dịch vụ cơ bản. Báo cáo này đã chứng minh điều ngược lại. Ngoại trừ các xã hội đang trong tình trạng hỗn loạn hoặc bạo lực vũ trang thì hầu hết các xã hội có thể - và đã phổ cập các dịch vụ cơ bản và thực hiện bảo trợ xã hội. Và họ nhận thấy rằng sự đầu tư ban đầu, dù chỉ bằng một phần nhỏ của GDP, cũng đem lại lợi ích lớn hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra.

-Giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương theo vòng đời: Con người phải đối mặt với các mức độ bất ổn khác nhau và các loại tổn thương khác nhau tại những thời điểm khác nhau trong suốt vòng đời. Các giai đoạn chuyển giao nhạy cảm này bao gồm thời kỳ ấu thơ, thời kỳ chuyển tiếp từ thanh thiếu niên sang thanh niên và từ người trưởng thành sang người già. Thời điểm can thiệp mang ý nghĩa quyết định - bởi nếu không hỗ trợ quá trình phát triển năng lực đúng thời điểm thì việc khắc phục ở giai đoạn sau của cuộc đời sẽ rất tốn kém. Tuy vậy, các nguồn lực thường ít được phân bổ cho thời kỳ ấu thơ và cho việc tăng chi tiêu xã hội tính trên đầu người theo độ tuổi.

-Củng cố hệ thống bảo trợ xã hội: Hệ thống bảo trợ xã hội, bao gồm bảo hiểm thất nghiệp, các chế độ lương hưu và các chính sách điều tiết thị trường lao động có thể bảo vệ con người trước các rủi ro và bất lợi trong suốt cuộc đời và đặc biệt là trong những giai đoạn nhạy cảm. Bằng cách cung cấp thêm một tầng hỗ trợ đã được dự kiến trước, các chương trình bảo trợ xã hội giúp các hộ gia đình tránh được cảnh phải bán hết tài sản, buộc con cái phải bỏ học giữa chừng hoặc ngừng các dịch vụ chăm sóc y tế cần thiết, những điều gây bất lợi cho chất lượng cuộc sống của họ trong dài hạn. Thêm vào đó, hệ thống phân phối và cơ chế quản lý các chương trình bảo trợ xã hội cũng có thể được sử dụng để đưa ra các biện pháp đối phó khẩn cấp trong ngắn hạn và hỗ trợ trong các giai đoạn khủng hoảng như thiên tai và hạn hán. Rất nhiều chương trình bảo trợ xã hội có những tác động tích cực ngoài dự kiến. Bảo hiểm thất nghiệp cải thiện hiệu quả hoạt động của thị trường lao động bằng cách cho phép những người thất nghiệp được lựa chọn công việc phù hợp hơn với kĩ năng và kinh nghiệm của họ thay vì bắt buộc phải nhận ngay công việc đầu tiên họ có được. Các chính sách bảo trợ xã hội là khả thi ở những giai đoạn đầu của quá trình phát triển và có thể mang lại những lợi ích khác như kích thích tiêu dùng và giảm đói nghèo. Bảo trợ xã hội bù đắp các biến động về sản lượng bằng cách giảm thiểu sự dao động về thu nhập khả dụng. Các chính sách bảo trợ xã hội phổ cập hiệu quả không chỉ cải thiện khả năng chống chịu của từng cá nhân mà còn hỗ trợ khả năng chống chịu của toàn bộ nền kinh tế.

-Thúc đẩy trạng thái toàn dụng lao động: Trạng thái toàn dụng lao động không chỉ mở rộng thuyết phổ quát sang thị trường lao động mà còn hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ xã hội. Thực tế là trạng thái toàn dụng lao động rất quan trọng trong việc duy trì mô hình Bắc Âu, do tỉ lệ việc làm cao giúp đảm bảo đủ nguồn thu thuế để tài trợ cho các chính sách phổ cập dịch vụ xã hôi. Trạng thái toàn dụng lao động cũng được mong đợi bởi những lợi ích xã hội mà nó mang lại. Thất nghiệp đòi hỏi chi phí kinh tế và xã hội cao, gây nên sự sụt giảm lâu dài về sản lượng và sự giảm sút về kĩ năng và năng suất lao động. Sụt giảm về sản lượng và theo đó là thu nhập từ thuế có thể đòi hỏi ngân sách phải chi nhiều hơn để hỗ trợ hệ thống bảo hiểm thất nghiệp. Thất nghiệp dài hạn cũng là một nguy cơ nghiêm trọng đe dọa đến sức khỏe (thể chất và tinh thần) và chất lượng cuộc sống (bao gồm cả giáo dục cho trẻ em). Và thất nghiệp thường đi kèm với sự gia tăng về tỉ lệ tội phạm, tự tử, bạo lực, nghiện ngập và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, những lợi ích xã hội mà việc làm mang lại vượt xa lợi ích cá nhân của nó là tiền lương. Việc làm thúc đẩy ổn định xã hội và gắn kết xã hội, và việc làm tốt giúp tăng cường khả năng quản lỳ các cú sốc và tình trạng bất ổn của con người. Việc làm, với vai trò là phương tiện sinh kế, củng cố chức năng của con người và mang lại giá trị to lớn hơn cho gia đình và cộng đồng. Việc làm ổn định cũng có ý nghĩa lớn về mặt tâm lý. Do đó các chính sách hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu, tăng số lượng việc làm chính thức và điều chỉnh các điều kiện làm việc là cần thiết để giảm thiểu mức độ tổn thương về việc làm trong trung và dài hạn, nhưng sẽ là không đủ để khắc phục tình trạng dễ bị tổn thương của phần lớn lực lượng lao động trong ngắn hạn. Vì vậy cũng cần phải có các chính sách để giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương – và đảm bảo sinh kế - cho đa số lực lượng lao động trong ngắn hạn vẫn phải tham gia vào các hoạt động theo lối truyền thống và trong khu vực không chính thức. Khuyến khích sự dịch chuyển này và tạo ra việc làm có năng suất cao trên diện rộng đòi hỏi các chiến lược phát triển kinh tế hiệu quả hơn, bao gồm việc đầu tư ngân sách nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng, phát triển năng lực con người, chủ động đổi mới và thúc đẩy các chính sách thương mại mang tính chiến lược, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu.

-Các thể chế đáp ứng linh hoạt và các xã hội gắn kết: Xây dựng khả năng chống chịu của con người đòi hỏi phải có các thể chế đáp ứng linh hoạt. Các chính sách và nguồn lực thích hợp là cần thiết để có thể cung cấp công ăn việc làm đầy đủ, các cơ hội về chăm sóc sức khỏe và giáo dục, nhất là cho những người nghèo và dễ bị tổn thương. Đặc biệt, những chính phủ nhận ra và hành động để giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giữa các nhóm khác nhau trong xã hội (còn gọi là bất bình đẳng theo chiều ngang) có nhiều khả năng hơn trong việc duy trì nguyên tắc phổ cập, xây dựng gắn kết xã hội cũng như phòng ngừa thảm họa và phục hồi sau thảm họa.

Các chính phủ có thể can thiệp để giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng theo chiều ngang thông qua việc kết hợp nhiều chính sách can thiệp khác nhau. Các biện pháp can thiệp trực tiếp, chẳng hạn như hành động khẳng định của chính phủ, có thể có tác dụng ngay lập tức trong việc giải quyết những bất công mà lịch sử để lại, nhưng tác động dài hạn của biện pháp này còn chưa rõ ràng. Và không phải lúc nào nó cũng điều chỉnh được những tác nhân mang tính cấu trúc đằng sau tình trạng bất bình đẳng dai dẳng. Cần có các chính sách vừa có hiệu quả trong ngắn hạn vừa thúc đẩy khả năng tiếp cận bền vững và lâu dài đến các dịch vụ xã hội, việc làm và các chương trình bảo trợ xã hội cho các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Những chính sách này có thể bao gồm các hình thức thưởng phạt chính thức, chẳng hạn như các đạo luật phòng chống. Ví dụ, những đạo luật xây dựng dựa trên các quyền có thể cải thiện đáng kể tình trạng của những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, những người có quyền được pháp luật bảo vệ và được tham gia giám sát cộng đồng trong trường hợp các thể chế không có đủ khả năng.

Thay đổi các quy tắc để tạo dựng lòng khoan dung và củng cố gắn kết xã hội cũng là một khía cạnh cần thiết và thường bị bỏ qua khi xây dựng những xã hội có khả năng chống chịu cao. Xã hội liên kết càng chặt chẽ thì càng bảo vệ con người tốt hơn trước những tình huống bất lợi và dễ dàng tiếp nhận các chính sách theo nguyên tắc phổ cập hơn. Gắn kết xã hội lỏng lẻo đi kèm với xung đột và bạo lực, đặc biệt trong trường hợp có sự bất bình đẳng khi tiếp cận với các nguồn lực và lợi ích từ tài nguyên thiên nhiên, và đi kèm với việc không đủ khả năng ứng phó một cách hiệu quả với những thay đổi nhanh chóng về kinh tế và xã hội hoặc với những tác động từ các cú sốc kinh tế hoặc khí hậu. Thật vậy, việc theo đuổi các mục tiêu lớn về bình đẳng, hòa nhập và công bằng giúp củng cố các thể chế xã hội và theo đó tăng cường gắn kết xã hội.

-Xây dựng năng lực để chuẩn bị đối phó và phục hồi sau khủng hoảng: Theo Báo cáo thì những quốc gia và cộng đồng không có sự chuẩn bị kĩ càng, không nhận thức được các nguy cơ và không có đủ năng lực phòng tránh phải gánh chịu tác động nghiêm trọng hơn rất nhiều từ các thảm họa. Cần có các nỗ lực lớn hơn để tăng cường hệ thống cảnh báo sớm của quốc gia và khu vực. Hợp tác khu vực về cảnh báo sớm có thể đạt được hiệu quả cao do các thảm họa thiên nhiên thường tác động đồng thời đến nhiều quốc gia. Cảnh báo sớm là một nhân tố quan trọng trong việc hạn chế rủi ro thiên tai. Nó cứu sống nhiều người và giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và vật chất do thiên tai gây ra. Cho dù một quốc gia có chuẩn bị kĩ càng đến đâu và hệ thống chính sách của quốc gia đó có tốt đến đâu chăng nữa thì các cú sốc vẫn thường mang đến những hậu quả không thể tránh khỏi và gây ra những thiệt hại nghiêm trọng. Do đó, mục tiêu chủ yếu là tái thiết và đồng thời tăng cường khả năng chống chịu về mặt xã hội, vật chất và thể chế. Việc đối phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan trở nên phức tạp hơn bởi các thế chế yếu kém và các cuộc xung đột. Khả năng chống chịu của một quốc gia bao gồm khả năng chống chịu nhanh chóng và hiệu quả sau thảm họa. Điều này đòi hỏi phải giải quyết các tác động tức thời của thảm họa cũng như thực hiện các biện pháp cụ thể để ngăn chặn các hậu quả kinh tế xã hội tiếp diễn. Những xã hội không được chuẩn bị để đối phó với các cú sốc thường phải gánh chịu những thiệt hại và tổn thất ở phạm vi rộng và kéo dài hơn rất nhiều.              

Mặc dù những nỗ lực để xây dựng gắn kết xã hội thay đổi tùy vào hoàn cảnh và điều kiện của từng quốc gia nhưng có thể xác định được một số nhân tố chung. Các chính sách và thể chế đấu tranh chống lại sự cô lập và loại trừ, tạo cho con người cảm giác hòa nhập, tăng cường lòng tin và đem lại cho con người cơ hội để phát triển, có thể giảm thiểu nguy cơ xung đột. Nâng cao nhận thức và khả năng tiếp cận thông tin của cộng đồng có thể tạo ra sự ủng hộ của cộng đồng đối với việc duy trì hòa bình và xây dựng một nền chính trị ít xung đột. Sự tham gia của các bên trung gian hòa giải đáng tin cậy có thể giúp xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm giữa các nhóm xung đột và đối lập và tạo ra sự đồng thuận về các vấn đề ở tầm quốc gia, từ công tác tiến hành bầu cử đến việc xây dựng hiến pháp mới. Đầu tư vào việc làm và sinh kế có thể giúp các cộng đồng và các cá nhân hồi phục sau thảm họa trong ngắn hạn và tăng cường khả năng chống chịu trước các thách thức trong tương lai.

Báo cáo lưu ý việc Đẩy mạnh các bước tiến và hành động tập thể trong bối cảnh hiện nay: Toàn cầu hóa đã khiến các quốc gia xích lại gần nhau và đem lại nhiều cơ hội mới. Tuy nhiên nó cũng làm gia tăng nguy cơ các tình huống bất lợi được lan truyền với tốc độ nhanh hơn. Những sự kiện diễn ra gần đây đã cho thấy những lỗ hổng lớn trong cách thức kiểm soát toàn cầu hóa đối với các vấn đề từ an ninh lương thực đến tiếp cận năng lượng, từ quy chế tài chính đến biến đổi khí hậu. Những thách thức xuyên biên giới này nhiều khả năng sẽ tiếp diễn trong những thập kỷ tới, trong khi những nhà quản trị toàn cầu chưa đủ khả năng ngăn ngừa và giảm thiểu các cú sốc. Các nhà hoạch định chính sách và các nhà lãnh đạo có thể sẽ bị động trước tốc độ và quy mô không thể kiểm soát được của những thay đổi này.

+Các thành tố của một hiệp ước xã hội toàn cầu: Năng lực có thể được tăng cường và các lựa chọn có thể được bảo đảm ở cấp quốc gia, nhưng những biện pháp quốc gia sẽ được ban hành dễ dàng hơn nếu có các cam kết và sự hỗ trợ toàn cầu. Việc hướng đến Chương trình nghị sự sau năm 2015 và xây dựng các mục tiêu về phát triển bền vững chính là cơ hội để cộng đồng quốc tế và các quốc gia thành viên cam kết phổ cập các dịch vụ xã hội, xây dựng sàn bảo trợ xã hội quốc gia và toàn dụng lao động với tư cách là các mục tiêu then chốt của cộng đồng quốc tế. Các cam kết toàn cầu nhằm thực hiện những mục tiêu này có thể mở ra dư địa chính sách ở cấp quốc gia giúp các chính phủ xác định những phương thức để tạo công ăn việc làm, cung cấp các dịch vụ xã hội và bảo trợ xã hội phù hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể của quốc gia mình, tuy nhiên các thỏa thuận quốc tế cũng rất cần thiết bởi chúng thúc đẩy hành động và cam kết và mang lại những sự hỗ trợ cả về mặt tài chính cũng như những mặt khác.

+Cải thiện cơ chế quản trị toàn cầu: Hiện nay, nhiều thách thức cùng xảy ra đồng thời gây ra tác động to lớn hơn - từ biến đổi khí hậu đến xung đột đến khủng hoảng kinh tế và bất ổn xã hội. Cần có những chính sách cụ thể để giảm thiểu nguy cơ xảy ra từng loại hiểm họa nhất định, tuy nhiên cần có những thay đổi tức thì, và lớn hơn trong cơ cấu quản trị trước khi có thể cải thiện được những vấn đề như bất ổn tài chính, cơ chế thương mại mất cân đối hay biến đổi khí hậu.

Thay đổi về chính sách cũng rất cần thiết để giảm thiểu một số cú sốc nhất định trước những thách thức toàn cầu. Hệ thống tài chính và thương mại có thể được điều chỉnh và các hiểm họa môi trường có thể được giảm thiểu nếu các thể chế tập trung vào việc cung cấp hàng hóa công cộng toàn cầu. Các khuyến nghị bao gồm các thể chế và cơ chế tài chính nhằm đảm bảo tiếp cận thanh khoản, giảm thiểu sự biến động của các luồng tài chính và hạn chế sự lây lan. Ngoài ra cũng cần có một bản đánh giá về các nguyên tắc hướng dẫn giao dịch trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ, dựa trên xu hướng của các hiệp định thương mại song phương và đưa vào các điều khoản phi thương mại làm thu hẹp dư địa chính sách quốc gia trong những lĩnh vực khác. Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức quan trọng nhất đối với tiến trình phát triển toàn cầu. Sự bất ổn của khí hậu – một loại hàng hóa công cộng toàn cầu – và tình trạng dễ bị tổn thương trước các hiện tượng thời tiết cực đoan và các cuộc khủng hoảng lương thực đã và đang là một hiểm họa thường trực tại nhiều khu vực trên thế giới. Cần có các hành động khẩn cấp trong lĩnh vực này. Hiện đã có những hành động đầy hứa hẹn ở cấp địa phương, song hành động đa phương mới là chìa khóa cho một phương pháp tiếp cận toàn diện.

+Hành động tập thể vì một thế giới an toàn hơn: Giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương trước các hiểm họa xuyên quốc gia dù bằng cách điều chỉnh cơ cấu quản trị để hạn chế các cú sốc hay từng bước giúp con người xây dựng khả năng đối phó, đều đòi hỏi sự lãnh đạo và phối hợp chặt chẽ hơn giữa các chính phủ và các tổ chức quốc tế. Điều này cũng đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận mạch lạc hơn, xác định các ưu tiên và giảm thiểu tác động lan tỏa – và sự tham gia có hệ thống hơn của cộng đồng và khu vực tư nhân. Thiếu sự phối kết hợp và lãnh đạo sẽ cản trở tiến trình giải quyết các thách thức toàn cầu và giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương. Trong khi những đề xuất để dỡ bỏ sự bế tắc trong cơ chế hợp tác quản trị toàn cầu vẫn chưa được thực hiện thì thế giới đã thay đổi chóng mặt trong vòng một thập kỷ qua. Các thách thức toàn cầu trở nên cấp bách hơn bao giờ hết, và môi trường địa chính trị toàn cầu đã thay đổi. Báo cáo Phát triển Con người năm 2013 đã nhấn mạnh, sự trỗi dậy của các nước Nam bán cầu đem lại cơ hội để cơ chế quản trị toàn cầu mang tính đại diện cao hơn – và hiệu quả hơn. Tuy nhiên điều này đòi hỏi phải xây dựng quyết tâm mới về hoạt động hợp tác và lãnh đạo quốc tế. Cơ chế quản trị toàn cầu thường được tổ chức thành các bộ phận khép kín, theo đó mỗi thể chế tập trung vào một vấn đề riêng lẻ như thương mại, khí hậu, tài chính và di cư. Điều này gây khó khăn cho việc hình thành nên quan điểm mang tính hệ thống về các thách thức toàn cầu hay cho việc xác định tác động lan tỏa và những mâu thuẫn trong hành động của các chính phủ và các cơ quan quốc tế. Việc đánh giá một cách đầy đủ và triệt để nhiều vấn đề, đôi khi chồng chéo, về mặt cấu trúc của cơ chế quản trị toàn cầu là cần thiết để đảm bảo hoạt động hợp tác quốc tế có hiệu quả và tập trung vào những lĩnh vực quan trọng nhất. Những đánh giá này nên được thực hiện bởi một tổ chức phi chính trị bao gồm các chuyên gia độc lập, những người có thể đưa ra quan điểm khách quan về các vấn đề toàn cầu, đồng thời tư vấn và đưa ra các kiến nghị cho các cơ quan điều hành. Cơ chế quản trị sẽ được cải thiện nếu có sự tham gia trực tiếp của người dân. Khi chính phủ tạo dựng được mối quan hệ chặt chẽ với người dân, chính phủ có thể thu thập được những thông tin chính xác về tình trạng dễ bị tổn thương của người dân và theo dõi hiệu quả của các chính sách can thiệp. Sự tham gia này đem lại hiệu quả cho các chính sách can thiệp của chính phủ và cho việc sử dụng các nguồn lực công. Sự tham gia của người dân trở nên hiệu quả khi họ có tự do, được bảo đảm an toàn, có đủ năng lực và có tiếng nói ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định. Bản thân họ cũng phải tin vào khả năng tạo ra các hiệu quả như mong muốn thông qua những hành động tập thể.

Báo cáo kết luận: Mục tiêu mặc định về tăng trưởng và phát triển toàn cầu mang tính bao trùm, bền vững và có khả năng chống chịu cao hơn đòi hỏi người dân trên thế giới phải có một tầm nhìn tích cực và thừa nhận rằng “thế giới chúng ta mong muốn” phụ thuộc vào việc cung cấp thành công các hàng hóa công tự nhiên và nhân tạo. Các thị trường, mặc dù đóng vai trò quan trọng, nhưng không thể tự cung cấp các biện pháp bảo trợ xã hội và môi trường cần thiết. Các chính phủ, dù riêng lẻ hay kết hợp với nhau, phải có thái độ sẵn sàng hợp tác - thông qua việc hài hòa các chính sách quốc gia hay những hành động tập thể trên phạm vi quốc tế. Chính phủ cần có khuôn khổ chính sách rộng hơn để cung cấp việc làm và các biện pháp bảo trợ cho người dân của mình. Xã hội dân sự có thể tạo ra ý chí chính trị, nhưng chỉ khi người dân nhận ra giá trị của quan hệ hợp tác xuyên biên giới và hàng hóa công cộng đối với mỗi cá nhân. Tiến bộ đòi hỏi phải nỗ lực. Rất nhiều Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ có khả năng sẽ đạt được ở cấp độ quốc gia vào năm 2015, nhưng thành công không tự nhiên mà có, và các thành tựu đạt được không phải lúc nào cũng là vĩnh viễn. Để đưa phát triển con người lên một bước cao hơn, cần phải bảo vệ các thành tựu đạt được trước rủi ro và các cú sốc, tăng cường khả năng chống chịu và thúc đẩy những thành tựu đã đạt được. Xác định và tập trung vào những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, giảm thiểu bất bình đẳng và giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương cấu trúc là cần thiết để duy trì sự phát triển trong suốt cuộc đời một cá nhân và qua nhiều thế hệ.

Trong Báo cáo, UNDP cũng công bố Bảng xếp hạng Chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2013. Năm 2013, Việt Nam xếp hạng 121 với chỉ số HDI là 0,638, thuộc nhóm có Chỉ số phát triển con người trung bình, thứ hạng không thay đổi so với năm 2012.

 


 [1] Ngày 11 tháng 9 năm 2014, tại Hội trường Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm - VASS), Lễ Công bố Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2014 đã được Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức. Chủ trì buổi lễ có GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Viện Hàn lâm; GS.TS. Võ Khánh Vinh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm; TS. Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú UNDP, Đại diện thường trú Chương trình phát triển của UNDP tại Việt Nam; TS. Michaela Krokop, Cố vấn chính sách của UNDP. Tham dự buổi lễ có đại diện một số Bộ, Ngành, một số cơ quan báo chí, thông tấn trong nước, Lãnh đạo một số Viện Nghiên cứu thuộc VASS, đại diện Đại sứ quán một số nước tại Hà Nội, đại diện một số tổ chức quốc tế và nhiều chuyên gia khoa học của VASS. PGS.TSKH. Lương Đình Hải, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người cũng tham dự buổi lễ.

 [2] Nội dung từ đây trở xuống được lấy trong Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2014 do UNDP cung cấp tại buổi Lễ Công bố này.

 

Lương Hải (Viện Nghiên cứu Con người)