ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TRÍ TUỆ ĐA NHÂN TỐ CỦA HOWARD GARDNER VÀO VIỆC TÌM HIỂU CÁC LOẠI HÌNH TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

17/09/2010
Lý thuyết trí tuệ đa nhân tố (Theory of Multiple Intelligences) của Howard Gardner (GS. Tâm lý học, Đại học Harvard) ra đời từ sự tổng kết, đánh giá từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, là kết quả của những khảo sát thực nghiệm của Howard Gardner trên rất nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian tương đối dài. Lý thuyết này ra đời dựa trên niềm tin của ông rằng: não bộ đã tạo ra các hệ thống riêng biệt cho những năng lực tương ứng khác nhau mà ông gọi là “các năng lực trí tuệ”. Theo tác giả, những dạng năng lực trí tuệ này không nhất thiết bộc lộ hết ở một con người. Một dạng kĩ năng và kĩ xảo của con người có khi không huy động hết mọi dạng năng lực trí tuệ đó. Năm 1983, ông đưa ra lý thuyết trí tuệ đa nhân tố với 7 năng lực trí tuệ khác nhau cùng tồn tại trong một con người.

1. Đặt vấn  đề

Lý thuyết trí tuệ đa nhân tố (Theory of Multiple Intelligences) của Howard Gardner (GS. Tâm lý học, Đại học Harvard) ra đời từ sự tổng kết, đánh giá từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, là kết quả của những khảo sát thực nghiệm của Howard Gardner trên rất nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian tương đối dài. Lý thuyết này ra đời dựa trên niềm tin của ông rằng: não bộ đã tạo ra các hệ thống riêng biệt cho những năng lực tương ứng khác nhau mà ông gọi là “các năng lực trí tuệ”. Theo tác giả, những dạng năng lực trí tuệ này không nhất thiết bộc lộ hết ở một con người. Một dạng kĩ năng và kĩ xảo của con người có khi không huy động hết mọi dạng năng lực trí tuệ đó. Năm 1983, ông đưa ra lý thuyết trí tuệ đa nhân tố với 7 năng lực trí tuệ khác nhau cùng tồn tại trong một con người. Theo ông, 7 năng lực trí tuệ khác nhau đó là:

(1) Năng lực trí tuệ ngôn ngữ  (Linguistic Intellgence): năng lực diễn tả ngôn ngữ dễ dàng bằng cách nói hay viết.

(2) Năng lực trí tuệ âm nhạc (Musical Intelligence): năng lực tạo ra thưởng thức các nhịp điệu, cung bậc (của nốt nhạc), âm sắc, biết thưởng thức các dạng biểu cảm của âm nhạc.

(3) Năng lực trí tuệ lôgíc - toán (Logical- Mathematical Intelligence): năng lực tính toán phức tạp và lý luận sâu sắc

(4) Năng lực trí tuệ không gian (Spantial Intelligence): bao gồm các khả năng tiếp nhận thế giới thị giác - không gian một cách chính xác và khả năng thực hiện những biến đổi đối với các sự tri giác ban đầu của mình. Nó cho phép tưởng tượng hình dạng của các sự vật với góc nhìn khác với người khác.

(5) Năng lực trí  tuệ cơ thể - tri giác vận  động (Body-Kinesthetic Intelligence): gồm các thành tố cơ bản là các năng lực kiểm soát các vận động của cơ thể mình và cầm nắm các đối tượng một cách khéo léo.

(6) Năng lực trí tuệ nội tâm (cá  nhân) (Intrapersonal Intelligence): bao gồm những năng lực đánh giá cảm xúc của bản thân mình, năng lực phân biệt giữa các cảm xúc ấy và đưa chúng vào hướng dẫn hành vi: sự hiểu biết về những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân mình, về những thèm muốn và trí thông minh của mình.

(7) Năng lực trí tuệ giao tiếp (Interpersonal Intelligence): thể hiện ở phương diện trí tuệ của con người hướng ra ngoài, hướng vào người khác. Đây chính là khả năng nhận ra và phân biệt được những cá nhân khác và đặc biệt là phân biệt được các tâm trạng, tính khí, động cơ và ý định của những người khác1.

Năm 1995, dựa vào những dữ liệu mới, phù hợp với các tiêu chí ông đã tìm ra trong quá trình thực nghiệm, ông đã đưa ra thêm một năng lực trí tuệ thứ tám – khả năng thiên nhiên học cho phép nhận biết và phân loại các vật thể tự nhiên. Hiện tại, ông cũng đang cân nhắc và đưa ra thêm năng lực trí tuệ thứ chín – trí tuệ tồn tại giúp nắm bắt các khuynh hướng của con người mà nhờ đó có suy nghĩ về những câu hỏi cơ bản như sự tồn tại, cuộc sống và cái chết.

Lý thuyết về nhiều dạng năng lực trí tuệ của Gardner đã tạo ra sự tranh cãi, rất nhiều nhà nghiên cứu cảm thấy lo ngại khi phải loại bỏ những cách kiểm tra đã trở thành tiêu chuẩn và phải chấp nhận những tiêu chí mới hoàn toàn xa lạ và không mang tính định lượng, một số nhà nghiên cứu có sự lo ngại liệu sự đa dạng về năng lực trí tuệ này đã được thực tế kiểm nghiệm hay chưa? Nếu như một vài nhà khoa học hoài nghi về sự đa dạng của trí thông minh thì những nhà giáo dục lại đi ngược lại. Ở Mĩ, các nhà giáo dục đã ứng dụng rộng rãi lý thuyết này vào quá trình dạy học của mình trên khắp nước Mĩ và nhiều nước khác, nhằm giúp cho kết quả của quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao. Mặt khác, lý thuyết này cũng giúp cho các nhà giáo dục thực hành (phụ huynh học sinh, giáo viên) thấy được thế mạnh của từng loại năng lực trí tuệ trong từng cá nhân học sinh và con em mình, để không đòi hỏi cái mà cá nhân đó không thể có, và giúp cho học sinh dưới tác động của giáo dục có thể phát huy tối đa năng lực trí tuệ nổi trội của mình.

Nhiều nhà  Tâm lý học đã thử ứng dụng lý thuyết này vào quá trình nghiên cứu của mình. Trong số đó, Thomas Armstrong đã ứng dụng thành công một phần lý thuyết đa trí tuệ của H. Gardner vào việc giảng dạy và giáo dục. Ông đã cho ra đời 7 cuốn sách nổi tiếng như: The Myth of the A.D.D. Child, In Their own Way, và Awakening Your Child’s Natural Genius v.v., những cuốn sách này chủ yếu viết về các vấn đề giáo dục và hướng dẫn cha mẹ giáo dục con cái, giúp con cái học tập theo các phương pháp nhằm phát huy các năng lực trí tuệ nổi trội của con em mình. Đặc biệt, ông đã tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết trí tuệ đa nhân tố của H. Gardner và xây dựng bộ trắc nghiệm phát hiện thiên hướng 7 năng lực trí tuệ của học sinh tiểu học.

2. Phương pháp nghiên cứu 

Năm học 2007- 2008, chúng tôi đã thử ứng dụng lý thuyết trí tuệ đa nhân tố của Howard Gardner vào việc khảo cứu mô hình trí tuệ đa nhân tố ở học sinh khối 4, trường tiểu học Nguyễn Siêu Hà Nội.

Để khảo cứu nhằm phát hiện 7 năng lực trí tuệ theo lý thuyết trí tuệ đa nhân tố của H. Gardner ở học sinh tiểu học chúng tôi sử dụng trắc nghiệm trí tuệ đa nhân tố của Thomas Armstrong. Trắc nghiệm trí tuệ đa nhân tố của Thomas Armstrong là một trắc nghiệm nhằm kiểm tra và phát hiện thực trạng 7 năng lực trí tuệ ở trẻ em (theo lý thuyết trí tuệ đa nhân tố của H. Gardner).

Bộ trắc nghiệm gồm 56 câu hỏi, chia thành 7 loại A, B, C, D, E, F, G. Mỗi loại bao gồm 8 câu hỏi có nội dung tương ứng với từng loại năng lực trí tuệ. Điểm tối đa đạt được cho từng loại năng lực trí tuệ là 80 điểm, điểm tổi thiểu đạt được cho từng loại năng lực trí tuệ là 8 điểm và được xếp loại như sau: Loại giỏi: 65 đến 80 điểm; Loại khá: 55 đến 64 điểm; Loại trung bình: 35 đến 54 điểm; Loại yếu: 8 đến 34 điểm.

3. Kết quả  nghiên cứu 

- Kết quả nghiên cứu thực trạng 7 loại hình trí  tuệ của học sinh trường tiểu  học Nguyễn Siêu Hà Nội qua trắc nghiệm trí tuệ đa nhân tố của Thomas Armstrong

Phân tích kết quả nghiên cứu cho thấy: ở học sinh tiểu học được nghiên cứu có xu hướng phát triển cả 7 năng lực trí tuệ theo quan điểm của H. Gardner. Tuy nhiên, 7 năng lực trí tuệ của học sinh tiểu học được nghiên cứu phát triển không đồng đều, chia thành các mức độ khác nhau: mức độ I (giỏi), mức độ II (khá), mức độ III (trung bình), mức độ IV (yếu). Cụ thể như sau:

Xếp thứ  nhất (72,2% số điểm giỏi), là năng lực trí tuệ hình ảnh không gian. Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn này cho thấy, các bậc phụ huynh và các nhà giáo dục cần quan tâm đến việc phát triển năng lực trí tuệ hình ảnh – không gian ở học sinh tiểu học. Giúp các em phát triển năng lực trí tuệ này để có thể học tốt hơn môn hình học ở cấp hai, hoặc có thể kết nối các năng lực trí tuệ lôgíc - toán và năng lực trí tuệ không gian với nhau thành một hệ thống hình học hoặc khoa học đơn nhất. Năng lực trí tuệ này cũng giúp học sinh trong việc định hướng trí nhớ thị giác, đặc biệt là sự định hướng trừu tượng trong không gian. Phát hiện và bồi dưỡng cho học sinh năng lực trí tuệ này có thể giúp các em diễn tả tư tưởng và dự định của mình dưới dạng ký hoạ, đồng thời có thể bồi dưỡng nhằm phát triển tối đa năng lực trí tuệ nổi trội này ở học sinh giúp các em định hướng nghề nghiệp của mình trong tương lai. Bởi vì, những người có năng lực trí tuệ hình ảnh không gian nổi trội có thể trở thành nhà họa sỹ, nhà điêu khắc, nhà hàng hải tài ba trong tương lai.

Xếp thứ  hai là năng lực trí tuệ ngôn ngữ (58,3%), kết quả nghiên cứu thực trạng chỉ ra rằng, học sinh tiểu học có xu hướng phát triển khá tốt năng lực trí tuệ ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu trên cũng cho thấy, trong mỗi con người ai cũng có năng lực tư duy ngôn ngữ. Tuy nhiên, ở mỗi cá nhân riêng biệt năng lực tư duy ngôn ngữ được thể hiện dưới các mức độ khác nhau (mức giỏi, mức khá, mức trung bình và mức yếu). Có thể nói, tư duy ngôn ngữ là một công cụ tối cần thiết để mỗi cá nhân có thể sống, học tập và làm việc trong xã hội và dần hoàn thiện nhân cách của bản thân.

Kết quả  nghiên cứu thực tiễn của đề tài cũng cho thấy, ngoài hai loại năng lực trí tuệ có điểm trung bình ở mức độ giỏi khá cao như  đã trình bầy ở trên thì 5 loại năng lực trí tuệ còn lại đều có tỷ lệ  % ở mức độ trung bình và dưới trung bình khá cao, cụ thể như sau:

Đối với năng lực trí tuệ giao tiếp, đây là năng lực trí tuệ có số học sinh lựa chọn mức độ yếu với tỷ lệ cao nhất trong số 7 năng lực trí tuệ. Kết quả này cho thấy, kỹ năng giao tiếp của học sinh tiểu học còn hạn chế. Phải chăng, học sinh tiểu học của chúng ta hiện nay dường như chưa được học tập và rèn luyện nhiều để có được kỹ năng giao tiếp tốt.

Đối với 4 loại năng lực trí tuệ còn lại, tỷ lệ phần trăm số học sinh lựa chọn ở mức độ trung bình và yếu khá cao. Tuy nhiên, 7 năng lực trí tuệ này đều rất cần thiết đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, đặc biệt là lứa tuổi học sinh tiểu học – lứa tuổi của sự bắt đầu và dần dần hình thành các năng lực trí tuệ. Do vậy, việc tìm hiểu thực trạng 7 năng lực trí tuệ ở từng học sinh nhằm phát hiện mức độ phát triển của từng loại năng lực trí tuệ sẽ giúp cho giáo viên và phụ huynh học sinh có những định hướng cụ thể giúp các em có thể rèn luyện và củng cố các năng lực trí tuệ nổi trội ở bản thân.

- Kết quả nghiên cứu thực trạng 7 năng lực trí tuệ bằng trắc nghiệm trí tuệ đa nhân tố của Thomas Armstrong qua mô tả một số trường hợp điển hình

Để tìm hiểu sâu hơn vấn đề này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu thực trạng 7 năng lực trí tuệ trên một số trường hợp học sinh cụ thể. Kết quả nghiên cứu thực tiễn của chúng tôi cho thấy:

Một số  ít học sinh có thiên hướng phát triển tốt cả  7 loại năng lực trí tuệ (điểm trung bình đạt từ 65 – 80 điểm). Có thể thấy qua kết quả nghiên cứu trường hợp cụ thể của em Ng. T. L, lớp 4A2, em Ng. Q. L, lớp 4A2, em Ng. Th. H lớp 4A1, ….

Qua nghiên cứu hồ sơ học tập của các em học sinh này, kết hợp với việc tìm hiểu thông tin về kết quả  học tập của các em qua giáo viên chủ nhiệm lớp và  học sinh trong lớp đều cho thấy các em đều là  học sinh giỏi suất xắc ở tất cả các năm học (từ lớp 1 đến lớp 4).

Một số  học sinh khác lại có thiên hướng chỉ phát triển một số ít trong số 7 năng lực trí tuệ  mà thôi. Cụ thể như các trường hợp V. Th. V; Ng. T. H; P. V. C...

Như vậy, kết quả nghiên cứu này là phù hợp với lý thuyết trí tuệ đa nhân tố của H. Gardner. Ở mỗi cá nhân có thể có thiên hướng phát triển cả 7 loại năng lực trí tuệ, và cũng có thể chỉ phát triển một số những dạng năng lực trí tuệ nhất định.

Việc khảo cứu nhằm tìm ra thiên hướng phát triển 7 năng lực trí tuệ ở học sinh tiểu học, đã cho thấy một kết quả khá thú vị và tương đối phù hợp với lý thuyết trí tuệ đa nhân tố của H. Gardner.

4. Kết luận

Việc  đưa lý thuyết trí tuệ đa nhân tố của H. Gardner, và trắc nghiệm trí tuệ đa nhân tố của Thomas Armstrong vào việc khảo cứu mô hình trí tuệ đa nhân tố trên học sinh ở một trường tiểu học Hà Nội, đã bước đầu có thể khẳng định và thừa nhận sự đúng đắn của lý thuyết này.

Kết quả  nghiên cứu thực trạng cho thấy, thiên hướng phát triển 7 năng lực trí tuệ của học sinh tiểu học được nghiên cứu phát triển không đồng đều, phân thành các mức độ khác nhau, chủ yếu tập trung vào mức độ khá và mức độ giỏi, mức độ trung bình và yếu tương đối ít. Trong đó, thiên hướng phát triển năng lực trí tuệ hình ảnh – không gian đạt mức độ giỏi cao nhất và thiên hướng phát triển năng lực trí tuệ giao tiếp có tỷ lệ % mức độ giỏi thấp nhất.

Mặt khác, nghiên cứu cũng cho thấy, ở một số học sinh được khảo sát có thiên hướng phát triển cả  7 năng lực trí tuệ này, và một số ít học sinh khác thì chỉ có thiên hướng phát triển một số năng lực trí tuệ nhất định mà thôi.

Với những kết quả nghiên cứu bước đầu, chúng tôi cho rằng, cần phải tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng lý  thuyết trí tuệ đa nhân tố của H. Gardner nhằm khảo cứu và phát hiện thiên hướng phát triển năng lực trí tuệ của học sinh tiểu học nhằm tìm ra những cơ hội và những chọn lựa về giáo dục cho mỗi cá nhân phù hợp với năng lực trí tuệ nổi trội của bản thân, để có thể định hướng và bồi dưỡng giúp các em có thể phát huy tối đa năng lực tư duy nổi trội của mình trong hoạt động học tập và có những định hướng tốt cho hoạt động nghề nghiệp của từng cá nhân trong tương lai.

Nguyễn Thị Mai Lan