Giới thiệu sách: Ba thế hệ trí thức người Việt (1062-1954). Nghiên cứu lịch sử xã hội/ Trịnh Văn Thảo; Lê Thị Kim Tân dịch._H.: Tri thức, 2019.

22/03/2021
Nhà xuất bản: Tri thức
Năm xuất bản: 2019
Kích thước: 24 cm
Số trang: 464

 

Ba thế hệ tri thức người Việt (1962-1954). Nghiên cứu lịch sử xã hội là tên sách tác giả chọn cho bản dịch tiếng Việt từ nguyên bản công trình khoa học “Le Vietnam du Confucianisme au Communissme. Un essai d’itineraire intellectuel” (Việt Nam từ Khổng giáo đến Chủ nghĩa Cộng Sản. Một tiểu luận về hành trình trí thức). Công trình hoàn thành và xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1990 và được chỉnh sửa, bổ sung tái bản năm 2007. Nội dung chủ yếu tập trung vào sự chuyển biến của ba thế hệ trí thức Việt Nam từ giữa thế kỳ XIX đến giữa thế kỷ XX.

Cuốn sách gồm 5 chương.

Chương 1: Mở đầu nghiên cứu xã hội học lịch sử về các thế hệ trong các bối cảnh. Trong chương này, tác giả đã nêu rõ bối cảnh xã hội và nhận diện chủ thể trí thức trong ba thời đoạn.

Thời đoạn 1 và cảnh huống năm 1862 với sự kiện chính quyền Việt Nam kí hiệp ước Bonard nhượng lại cho Pháp các tỉnh miền Đông Nam Bộ-khởi đầu cho “buổi hoàng hôn” của nền quân chủ Việt Nam. Nhiều phong trào kháng chiến đã diễn ra bền bỉ kéo dài với các tên tuổi thủ lĩnh dân sự (Tống Duy Tân, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Đình Phùng) hay quân sự (Đề Thám, Cao Thắng …). Thời đoạn này gắn với thế hệ “Trí thức cổ điển”, là tầng lớp nho sĩ, trí thức Nho giáo, những người coi trọng kiến thức, tôn trọng các quy tắc, có nghĩa vụ và mối quan hệ đan xen với nhà vua theo những nguyên tắc đạo đức chính trị của Nho giáo.

Thời đoạn 2 và bối cảnh năm 1907 là giai đoạn thừa nhận sự thất bại của nhà nước quân chủ Việt Nam, chế độ thực dân trên đất Đông Dương được thiết lập, từng bước thay đổi cấu trúc xã hội truyền thống. Thời đoạn này gắn với thế hệ “trí thức của hai thế giới”. Đó là thế hệ trí thức chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa dân tộc gay gắt và có tinh thần hướng ngoại. Lực lượng xã hội mới ra đời như công nhân, tiểu nông, viên chức, trí thức Tây học, điền chủ, tư bản công nghiệp, … Nổi lên đầu thế kỷ XX là hoạt động của nhóm sĩ phu Duy Tân với Phong trào Đông Du, trào lưu Âu hóa, Đông Kinh Nghĩa Thục.

Thời đoạn 3 và bối cảnh năm 1925 gắn với các dấu hiệu về cuộc khủng hoảng toàn diện của xã hội thực dân. Nhiều phong trào đấu tranh lớn mạnh chưa từng có đặc biệt trong hai năm 1925-1926 làm đảo lộn diện mạo chính trị xã hội của Việt Nam. Thời đoạn này gắn với thế hệ “trí thức Âu hóa”.

Trên cơ sở xác định và nhận diện các nhóm trí thức trên, tác giả tìm ra “nhóm trung tâm” của mỗi thế hệ và lập được sanh sách 650 nhân vật lịch sử, lựa chọn giới thiệu tiểu sử sơ lược của 222 chứng nhân lịch sử, phân chia theo các nhóm trên.

Trong các chương tiếp theo, tác giả giả đưa ra số liệu khảo sát cụ thể tiểu sử và hành trình xã hội của ba thế hệ, những chuyển biến mang tính khủng hoảng hay thử thách của từng thế hệ trong bối cảnh đất nước, khu vực và thế giới.

Chương 2: Tiểu sử và hành trình xã hội của ba thế hệ. Hành trình xã hội của các thế hệ được tác giả tổng quan, phân tích trên các chiều cạnh: cuộc sống, cái chết, yếu tố địa lý, nguồn gốc xã hội (con nông dân, con văn thân, con quan, con dòng dõi trị vì, v.v…); việc học tập, chức vị, xu hướng chính trị của các quan chức cao cấp; bộ máy quan lại thực dân, v.v… Việc phân tích trên đã cho phép “giải thích nhiều các sự kiện mang tính “biến động” trong cuộc đời của họ, làm đảo lộn sự nghiệp, con đường đèn sách, thay đổi các quan điểm và chiến lược, cuộc sống và cái chết” [tr.100]. Cũng trong chương này, tác giả cũng giới thiệu một số phả hệ phức tạp cho thấy những nét về giai tầng xã hội ở Việt Nam: phả hệ Ngô Đình Diệm (1901- 1963) (thể hiện một hành trình lí tưởng, điển hình cho các đại thần Trung Kì); Phả hệ những người thành lập và quản lý công ty Liên Thành (thể hiện chặng đường trí thức tân thời của chủ nghĩa tư bản Nho giáo Việt Nam); Phả hệ  Pétrus Trương Vĩnh Kí: hành trình xã hội của một gia tộc lớn miền Nam; Phả hệ tầng lớp lãnh đạo miền Bắc Việt Nam gồm nhóm Đặng Võ và Hồ Tùng.

Chương 3: Khủng hoảng “thế hệ kháng chiến” (1862-1907). Trong chương này, tác giả phân tích một số vấn đề nảy sinh: quan hệ thầy- trò trong hệ thống giáo dục truyền thống (Nho giáo); chốn quan trường Việt Nam; cơ cấu chính trị- hành chính cũ và mối quan hệ giữa kiến thức và quyền lực thế kỷ XIX; khủng hoảng bên trong hệ thống giáo dục truyền thống; thái độ của Nho sĩ và những người đối lập trong việc đối diện với chủ nghĩa thực dân; Nho giáo trước thử thách lịch sử.

Chương 4: Duy tân ở Việt Nam (1907-1925). Trong chương này, tác giả có dẫn giải về Duy tân ở Trung Quốc vì cho rằng Duy tân ở Việt Nam “có vẻ cũng bắt nguồn từ cùng những quy tắc lịch sử giống với Trung Quốc” [tr. 214] dù bối cảnh lịch sử có khác với Trung Quốc. Qua việc hành trình xã hội chính trị của trí thức Việt Nam thời kỳ này, tác giả cho rằng “Việt Nam Duy Tân không xa lánh tinh thần vay mượn văn hóa do các Nho sĩ cải cách Trung Quốc mở đường đầu thế kỉ. Việt Nam Duy Tân tiến hành theo cùng một hành trình: một mặt, khẳng định tính đại đồng của Khổng Giáo, mặt khác tán thành (dĩ nhiên là dưới sức ép của các sự kiện) hiệp thông giáo hội khi nó tước bỏ mọi ý định lấy dân tộc mình làm trung tâm” [tr. 245].

Chương 5: Thử thách của cách mạng (1925-1975). Trong chương này, tác giả xem xét cách thức tổ chức giáo dục và chế độ xã hội đang cai trị. Qua đó cho thấy hình ảnh những con người người thuộc giới trí thức mới. Như tác giả nhận định “mặc dù có những tổn thất đáng kể về con người và tài năng, và rằng qua những chuyển đổi liên tiếp (chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa Marx-Lenin, chủ nghĩa Mao và chủ nghĩa nhân vị Việt Nam), nhưng giới trí thức cách mạng, nổi trội trên trường chính trị-hệ tư tưởng ngày hôm nay, vẫn còn ghi đậm dấu ấn sâu sắc của những đặc trưng xã hội học và văn hóa trong quá trình đào tạo của họ (1925-1926), vẫn còn giằng co giữa một chiến lược đối đầu (thừa hưởng từ việc liên minh của mình với U.R.S.S (Liên bang Xô Viết) và Trung Quốc) và một hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa sâu sắc” [tr.342].

Cuốn sách đã cung cấp nhiều thông tin khoa học về các thế hệ trí thức người Việt từ năm 1862 đến năm 1954; phương pháp luận cũng như cách tiếp cận lịch sử-xã hội để giải quyết vấn đề. Đây tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu nói chung và nghiên cứu về con người, về lịch sử Việt Nam và nghiên cứu xã hội học nói riêng.

Thu Hà

 

 

Các tin cũ hơn.............................