Một số khuyến nghị nhằm đảm bảo quyền tiếp cận pháp luật của người nông dân

29/11/2017

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM BẢO ĐẢM

QUYỀN TIẾP CẬN PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN[1]

TRƯƠNG VĂN DŨNG *

Việc tiếp cận pháp luật của nguời dân nói chung và người nông dân sinh sống ở nông thôn nói riêng luôn được đánh giá là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết không chỉ trong thời gian vừa qua mà còn cả trong những năm tới. Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, do đó việc tiếp cận pháp luật của người dân nói chung và người nông dân nói riêng càng có vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng để từng bước xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới. Hơn nữa, hiện nay chúng ta đang thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành trung ương Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Để đề ra các cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông dân và nông thôn thì các chính sách, pháp luật về đất đai, đầu tư, tín dụng,... là những điểm mấu chốt, có tính chất quyết định. Đồng thời cũng cần phải giải quyết mối quan hệ đan xen giữa truyền thống và hiện đại, giữa pháp luật và phong tục tập quán, giữa hành chính và tự quản, giữa chính quyền và người dân,... Khi xác định người nông dân là chủ thể trong quá trình xây dựng và phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Với vị trí, vai trò và tầm quan trọng như vậy, thì việc người nông dân nông thôn nắm bắt được pháp luật để vận dụng vào phát triển kinh tế xã hội địa phương là rất cần thiết. Trong những năm vừa qua, cùng với việc ban hành pháp luật thì Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm, chú trọng đến vấn đề tiếp cận chính sách pháp luật của người nông dân nông thôn để pháp luật thực sự đi vào thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, ngoài chủ trương, chính sách pháp luật nói chung, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách pháp luật có tính chất chuyên biệt, đặc thù (ưu tiên) cho khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số,... nhằm huy động và tập trung mọi nguồn lực đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người nông dân nông thôn. Mặc dù vậy nhưng pháp luật đi vào cuộc sống được bao nhiêu, việc tiếp cận của người dân, mức độ, hiệu quả trên thực tế như thế nào, tốt hay không tốt cũng chưa có một kiểm định, đánh giá cụ thể nào.

Hơn nữa, chúng ta thấy, trong thực tiễn cuộc sống còn nhiều hạn chế, tồn tại phát sinh chưa được khắc phục, chẳng hạn như: sự đồng thuận của người dân trong xã hội nông thôn chưa cao; còn xảy ra nhiều vấn đề xã hội hết sức phức tạp, nhất là các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội còn tiểm ẩn, thậm chí có lúc có nơi vẫn còn gia tăng, các vụ việc vi phạm pháp luật, thậm chí là tội phạm thường xảy ra nhiều như: trộm cắp, cướp giật, giết người, cướp của, hiếp dâm, nạn chặt phá rừng trái phép, vi phạm các quy định khi tham gia giao thông,  và cũng có không ít vụ chống người thi hành công vụ,... đều xuất phát từ sự thiếu nhận thức, hiểu biết về pháp luật, đặc biệt là trong giới trẻ ở nông thôn hiện nay. Bên cạnh đó, hiện nay khi mà hàng ngày, hàng giờ các yếu tố tiêu cực của kinh tế thị trường đang tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của mỗi người nói chung và người nông dân nông thôn nói riêng. Hay nói cách khác, tính đa dạng, phức tạp của các mối quan hệ xã hội nông thôn ngày càng gia tăng, yếu tố thực dụng đang có sức chi phối mạnh mẽ đến lối sống của mỗi con người vốn thuần chất nông dân. Những hiện tượng đó đã có tác động, ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ truyền thống tốt đẹp của không chỉ trong xã hội, mà còn ngay cả trong quan hệ gia đình, anh em họ tộc, thậm chí ở đâu đó các quan hệ này đã bị phá vỡ. Đây cũng là các nguyên nhân làm xảy ra những vụ việc tranh chấp về đất đai, tài sản,... giữa vợ chồng, anh em trong gia đình và họ tộc. Thậm chí, có những vụ tranh chấp đã dẫn đến án mạng hoặc gây thương tích, tạo ra những hệ lụy không tốt cho cộng đồng và toàn xã hội.

Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Nhiệm vụ khoa học cấp Bộ: “Người nông dân với tiếp cận pháp luật”, với mục tiêu nhằm đánh giá thực trạng tiếp cận pháp luật (TCPL) của người dân tại cơ sở để có giải pháp thúc đẩy, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc triển khai TCPL, bảo đảm điều kiện đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật, thực hiện, bảo vệ và phát huy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân ngay tại cơ sở; phát huy vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành với phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu có sẵn liên quan đến nhiệm vụ và nghiên cứu định tính. Nhóm nghiên cứu thấy rằng, việc TCPL đối với người dân nói chung và người nông dân nông thôn nói riêng có một vị trí, vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội. Và thực tế, nhu cầu TCPL của người nông dân nông thôn là rất lớn. Tuy nhiên, thực tiễn người nông dân còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề TCPL, bởi còn tồn tại, nhiều hạn chế bất cập. Những tồn tại hiện hữu nêu trên có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung vào các nguyên nhân chính sau đây:

- Khả năng, điều kiện TCPL còn nhiều hạn chế làm cho người nông dân nông thôn thiếu kiến thức, hiểu biết về pháp luật dẫn đến ứng xử thiếu chuẩn mực trong quan hệ cuộc sống hàng ngày.

- Các thiết chế hỗ trợ, giúp đỡ người nông dân nông thôn TCPL ở cơ sở phát triển chậm, chất lượng không đồng đều. Ở một số địa phương, cơ chế phổ biến thông tin, hỗ trợ giải quyết vướng mắc pháp luật, thực hiện quyền làm chủ của người nông dân tại cơ sở chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả mang lại chưa cao.

- Chất lượng hoạt động thực thi công vụ để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người nông dân nông thôn cũng như hỗ trợ, giúp đỡ họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình từ phía các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước còn hạn chế. Việc thực hiện quy trình giải quyết thủ tục hành chính và các vướng mắc pháp luật của người nông dân nông thôn còn nhiều bất cập.

- Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là đội ngũ công chức chuyên môn cấp xã còn yếu về trình độ chuyên môn và thiếu về số lượng. Vì vậy, đã có những tác động, ảnh hưởng nhất định đến việc tổ chức thực thi pháp luật, tiếp cận pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống.

- Việc ban hành các văn bản hướng dẫn, triển khai và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước và chính quyền cơ sở còn rất chậm, thiếu các điều kiện bảo đảm để triển khai, tổ chức thực hiện.

- Cơ sở vật chất bảo đảm cho công tác TCPL của người nông dân nông thôn tại cơ sở còn rất thiếu thốn, nhất là đối với các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Chẳng hạn, các phương tiện làm việc như máy vi tính chưa có hoặc phải sử dụng chung; các tài liệu pháp luật, nghiệp vụ chưa được cập nhật thường xuyên. Nhiều nơi chưa được nối mạng Internet đã ảnh hưởng đến việc cập nhật văn bản pháp luật mới và sử dụng cơ sở dữ liệu pháp luật một cách hệ thống, việc ứng dụng công nghệ thông tin, Tin học trong quản lý và thực thi công vụ còn ít. Đây chính là những hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc TCPL của người nông dân và chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ của chính quyền cơ sở.

- Cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa thực sự chú trọng và đầu tư tương xứng cho các điều kiện bảo đảm để người nông dân TCPL tại cơ sở. Việc tổ chức triển khai các thiết chế pháp luật còn chủ quan, mang tính hình thức, “chiếu lệ”, chưa bám sát yêu cầu của người nông dân nông thôn, chưa thuận lợi để người nông dân TCPL. Hiện tượng hành chính hóa hoặc “thả nổi” các hình thức sinh hoạt cộng đồng, thiết chế xã hội vẫn còn khá phổ biến.

- Hiện tại, các thiết chế bảo đảm sự TCPL của người dân nói chung và người nông dân nông thôn nói riêng tại cơ sở phần lớn do Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm, tuy nhiên, thực tế cũng có nhiều thiết chế liên quan đến các bộ, ngành khác quản lý. Chẳng hạn: thiết chế về tư pháp do Bộ Tư pháp quản lý; thiết chế về dân chủ cơ sở do Bộ Nội vụ quản lý; thiết chế tư pháp về đất đai do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý; thiết chế về văn hóa do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý,... Nhưng hiện nay, giữa các bộ, ngành vẫn chưa có sự phối hợp, gắn kết với nhau để có sự thống nhất, giải quyết một cách toàn diện, tổng thể vấn đề TCPL của người dân ở cơ sở.

Chính vì vậy, việc TCPL của người dân còn chưa đầy đủ, chủ yếu bó hẹp trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải, trợ giúp pháp lý,... mà chưa được nhìn nhận bao quát ở cả góc độ thực thi công vụ của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp. Cũng chính vì thiếu sự phối hợp đó nên đã tạo ra nhiều “khoảng trống” trong quản lý, việc xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho người nông dân dễ TCPL để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trên cơ sở đó, để bảo đảm cho người dân nói chung, người nông dân nông thôn nói riêng có cơ hội, điều kiện TCPL tốt hơn, góp phần từng bước nâng cao nhận thức, hiểu biết, có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của Nhà nước, kịp thời hỗ trợ, giúp đỡ người nông dân trong sử dụng pháp luật để thực thi quyền, nghĩa vụ của mình cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội ngay tại cơ sở. Đồng thời giúp Nhà nước từng bước thiết lập và không ngừng hoàn thiện các thiết chế thực thi pháp luật, hỗ trợ người dân thực thi pháp luật (thiết lập bộ máy tổ chức, bố trí cán bộ, bảo đảm cơ sở vật chất; hoàn thiện quy trình giải quyết yêu cầu, vướng mắc pháp luật, thiết lập các cơ chế bảo vệ,...). Nhóm nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị cụ thể như sau:

- Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ một số vấn đề như: quyền TCPL của người dân; nghĩa vụ bảo đảm quyền TCPL của người dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN; vai trò của Nhà nước, vai trò của người dân nói chung và đặc biệt là người nông dân nói riêng trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo của các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận của hệ thống pháp luật. Ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật khi văn bản này có hiệu lực, hạn chế sự chờ đợi hướng dẫn.

- Tiếp tục nghiên cứu làm rõ vai trò TCPL của người dân nói chung và người nông dân nông thôn nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Cần phải coi đây là một khâu trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.

- Tập trung chỉ đạo và triển khai nhiều giải pháp thực hiện, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực đất đai, tài nguyên môi trường, đăng kí hộ khẩu thường trú, các trình tự giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện đại, các văn bản chỉ đạo công tác kiểm soát thủ tục hành chính, tổ chức tốt ngày làm việc thứ bảy để giải quyết hồ sơ cho người dân, kiện toàn và củng cố đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, cán bộ tiếp nhận và trả kết quả,... tập trung cho công tác cải cách thủ tục hành chính, giải quyết hồ sơ cho người dân trong thời gian sớm nhất với mục tiêu phải đạt về mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của chính quyền các cấp.

- Cần phải đẩy nhanh việc xây dựng và hoàn thiện bộ tiêu chí về chuẩn TCPL của người dân ở cơ sở. Đặc biệt bộ tiêu chí này cần phải sát với thực tiễn nông thôn và cần thiết phải lồng ghép một số tiêu chí TCPL với bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, nhưng các quy định phải mang tính khái quát cao, đại diện và bền vững, phù hợp với Luật tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản pháp luật có liên quan. Trong đó nhấn mạnh các chỉ tiêu, nhiệm vụ có liên quan đến thủ tục hành chính; đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy nổ và tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương; các chỉ tiêu về xây dựng và thực thi thiết chế TCPL của xã hội như dân chủ ở cơ sở, phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở…; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo thi hành nhiệm vụ của chính quyền địa phương…

- Cần phải đẩy nhanh việc ban hành các văn bản hướng dẫn Luật tiếp cận thông tin, bởi luật này đã có hiệu lực, nhưng vẫn còn thiếu những văn bản hướng dẫn quan trọng nên thực tế còn khó khăn trong việc tiếp cận thông tin của người dân. Vì vậy cần phải có những văn bản hướng dẫn quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp thông tin, công khai thông tin, trình tự thủ tục giải quyết các thủ tục hành chính của các cơ quan, tổ chức; trách nhiệm của người cung cấp thông tin; quy định hình thức công khai thông tin; xây dựng nguyên tắc chung cho phép lựa chọn hình thức công khai nhưng phải đảm bảo thuận tiện cho đối tượng tiếp nhận thông tin...

- Cần tiếp tục củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo đảm TCPL của người dân của chính quyền các cấp. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể phải luôn quan tâm và quan tâm nhiều hơn đến con người với tư cách là các thực thể, chủ thể của các mối quan hệ xã hội. Trong nghị quyết, chương trình, kế hoạch của mình, chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện cần đề cập một cách đầy đủ và cụ thể hơn mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phổ biến, giáo dục pháp luật làm cơ sở cho các cấp ủy Đảng và chính quyền cơ sở (cấp xã) triển khai thực hiện thuận lợi, dễ dàng hơn, góp phần nâng cao trình độ nhận thức và ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của nhân dân. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, ngoài các điều kiện về đời sống vật chất, mỗi con người cụ thể luôn hướng tới những giá trị văn hóa tinh thần; họ đều có xu hướng hoàn thiện bản thân mình, mong muốn mình sống tốt hơn, sống có ích hơn. Đây là yếu tố quan trọng để kích thích hoặc tác động đến nhận thức của con người, thu hút họ theo những định hướng nhất định. Do đặc thù của nhóm đối tượng nông dân là trình độ học vấn thấp, hạn chế trong nhận thức nên phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều phương pháp khác nhau như: vận động, thuyết phục, hỗ trợ, tư vấn,... Cần trang bị cho nông dân những kiến thức cơ bản, những hiểu biết về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; những kiến thức luật pháp liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội, đến quyền lợi và nghĩa vụ của nông dân. Về hình thức, phải linh hoạt, mềm dẻo, đa dạng, phong phú, chủ yếu dựa vào cộng đồng là chính: tiếp xúc cử tri, họp tổ nhân dân tự quản, tiến hành tọa đàm, trao đổi,...Việc tuyên truyền, giáo dục, vận động để nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của người dân phải luôn đi theo hướng này. Do đó, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương khi triển khai các nhiệm vụ cần hết sức chú ý.

Đặc biệt, trong xây dựng chiến lược giáo dục - đào tạo phải có tính căn bản, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông cho tất cả các bậc học, ở nông thôn, cần chú trọng đến công tác xóa mù chữ và tái mù, phổ cập giáo dục, nhất là cho các đối tượng ở vùng sâu, vùng xa. Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong việc TCPL của người dân, đặc biệt là người dân vùng nông thôn hiện nay.

- Tăng cường công tác phổ biến pháp luật, trong đó chú trọng tuyên truyền các quy định của pháp luật liên quan đến người nông dân nông thôn hiện nay, chẳng hạn các chính sách pháp luật liên quan đến đất đai, hành chính, tư pháp,... Các cơ quan, tổ chức Nhà nước cần phải có những giải pháp cụ thể để tác động, để kích thích nhu cầu và hướng người nông dân nông thôn quan tâm đến pháp luật như một “thói quen”, tạo ra động lực cần thiết để người dân tự giác tìm hiểu pháp luật, nắm vững pháp luật, tôn trọng pháp luật, hành xử theo pháp luật và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Cần xác định tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là một hình thức tốt nhất trong việc bảo đảm TCPL của người dân nói chung và người nông dân vùng nông thôn nói riêng. Hiện nay, việc TCPL của người nông dân nông thôn chủ yếu thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến, nhiều khi việc tuyên truyền còn nặng tính hình thức, hiệu quả chưa cao, do đó ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện chính sách pháp luật đối với người dân. Hay nói cách khác, người dân chậm được tiếp cận với các chính sách và pháp luật mới ban hành của nhà nước.

- Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chính quyền cơ sở cần phải được bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn trong quá trình thực hiện, giải quyết công việc của người dân. Đặc biệt trong lĩnh vực giải quyết các thủ tục hành chính của người nông dân nông thôn. Mặc dù trong những năm vừa qua, chính quyền cơ sở tại nhiều địa phương cơ bản đã được bố trí, được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, thực tế tình trạng một số cán bộ công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính, kĩ năng xử lí, giải quyết công việc còn hạn chế, chưa thực sự chuyên nghiệp, thậm chí vẫn còn tình trạng lợi ích riêng dẫn đến giải quyết thủ tục hành chính cho công dân còn chậm, chưa kịp thời. Do đó, cần phải tiếp tục nâng cao năng lực, kĩ năng cho cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giải quyết thủ tục hành chính tại chính quyền cơ sở; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời ngăn chặn, xử lí các hành vi vi phạm pháp luật (nhũng nhiễu) người dân trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, đối với đội ngũ làm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cũng còn nhiều bất cập (về trình độ, chuyên môn, kĩ năng,...) Do đó, cần phải đặc biệt quan tâm xây dựng và củng cố đội ngũ cán bộ này theo hướng chuyên sâu từng lĩnh vực pháp luật ở các cấp, các ngành, xem đây là một trong những “cầu nối” quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong đó phải không ngừng nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ tư pháp, cán bộ pháp chế ngành, lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật tại cơ sở và trong từng cơ quan, đơn vị.

Một vấn đề quan trọng trong công tác nâng cao năng lực, chất lượng cán bộ chính quyền cơ sở là tăng cường hơn nữa các chính sách đãi ngộ, phương tiện, kinh phí cho các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật, xây dựng các cơ quan này thực sự trong sạch, vững mạnh. Vì đây là lực lượng nòng cốt để chỉ đạo, phối hợp tổ chức thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến các đối tượng.

- Ủy ban nhân dân cấp xã cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang bị phương tiện, bố trí nguồn lực để bảo đảm việc TCPL của người nông dân nông thôn. Thực tế hiện nay, TCPL của người nông dân nông thôn chủ yếu là qua công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và qua tài liệu ở tủ sách pháp luật của xã. Nhưng thực tế, mô hình tủ sách pháp luật ở xã hiện đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế, cần phải được bổ sung và hoàn thiện để phát huy hiệu quả hơn. Đó là cần phải bổ sung thường xuyên số lượng đầu sách, báo, tài liệu liên quan đến pháp luật; ngoài nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp, các địa phương nên có chủ trương xã hội hóa tủ sách bằng việc vận động cơ quan, tổ chức, người dân, bạn đọc,… tham gia hiến sách cho tủ sách.

Đối với Công báo là một nguồn văn bản luật phong phú, quan trọng, rất cần thiết và hiện đang được nhà nước cấp đầy đủ, nhưng do số lượng quá lớn nên không có chỗ để chứa đựng. Do đó đề nghị Nhà nước chuyển đổi hình thức cấp phát từ văn bản giấy sang văn bản điện tử, dưới dạng các đĩa thông tin, theo định kỳ 2 tuần một lần hoặc mỗi tháng một lần. Làm như vậy sẽ gọn nhẹ hơn nhiều, tạo thuận lợi cho cấp xã dễ lưu trữ, dễ khai thác, sử dụng; quan trọng hơn là sự tiện ích trong việc khai thác, sử dụng của báo cáo viên, tuyên truyền pháp luật cơ sở; nhân sao các đĩa thông tin pháp luật đó cấp phát cho người dân có nhu cầu.

Trên cơ sở đó, người nông dân có nhiều cơ hội và điều kiện để tiếp cận gần hơn với pháp luật, góp phần nâng cao kiến thức pháp luật để vận dụng vào thực tiễn cuộc sống.

- Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, bùng nổ thông tin, vai trò của công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet đã và đang giữ một vị trí mang tính then chốt, có sức chi phối quyết định trong sự phát triển của kinh tế - xã hội và đời sống con người; đã và đang có sức ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến hầu hết các mối quan hệ trong đời sống xã hội. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta hiện tại và tương lai không thể không tính đến vai trò và lợi thế của công nghệ thông tin. Vì vậy phải hết sức chú ý và cần thiết tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua công nghệ thông tin; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan để xây dựng hệ thống pháp luật qua công nghệ thông tin, tạo điều kiện để người dân TCPL nhanh chóng, kịp thời và chính xác. Cần phải nâng cao vai trò, trách nhiệm, đồng thời quy định rõ sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong xây dựng, hoàn thiện chuẩn TCPL phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là sự gắn kết giữa tiêu chí TCPL với tiêu chí nông thôn mới hiện nay. Do đó, tất cả các dự án quy hoạch và thông tin quy hoạch của tỉnh cần được công bố công khai trên Trang thông tin điện tử của tỉnh. Bên cạnh thông tin về quy hoạch, nhiều thông tin về điều hành, phát triển kinh tế - xã hội... cũng được công khai ở đây. Các thông tin về thủ tục hành chính được công bố công khai tại Trang thông tin điện tử của tỉnh và của cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính, được niêm yết công khai tại các trung tâm giao dịch một cửa, một cửa liên thông của các sở, ngành và địa phương,...

- Một vấn đề quan trọng nữa đó là: để lôi cuốn các chủ thể khác tham gia tích cực vào hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, thì cần phải tiếp tục đổi mới cách thức tiến hành theo hướng gắn tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với tổ chức thực hiện, thi hành, áp dụng và vận dụng pháp luật; phát huy hiệu quả sự điều chỉnh pháp luật đối với từng vấn đề cụ thể trong cuộc sống của người dân ở từng khu vực, vùng, miền nếu có thể, hình thành thói quen, nếp nghĩ của mọi người trên cơ sở quy phạm pháp luật, tạo môi trường pháp lý lành mạnh trong đời sống dân sự, từ đó củng cố niềm tin của mỗi người vào giá trị công bằng và dân chủ của pháp luật và nền pháp chế xã hội chủ nghĩa. Từ niềm tin đó sẽ thôi thúc người nông dân đến với pháp luật, nảy sinh nhu cầu tự tìm hiểu pháp luật và hướng đến mọi hành vi xử sự đều phải tuân theo quy định của pháp luật.

- Đẩy mạnh niêm yết các thủ tục hành chính tại các cụm dân cư tập trung; tăng cường phát huy vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện các thủ tục hành chính cho người nông dân, đặc biệt chú trọng người dân ở vùng sâu, vùng xa,... Bên cạnh việc cung cấp đĩa thông tin pháp luật, cần trang bị máy vi tính, máy in để kết xuất thông tin ra giấy phục vụ cho người dân khi có nhu cầu. Qua đầu mối máy vi tính nối mạng internet này có thể giúp người dân gửi câu hỏi đến địa chỉ cần thiết đề nghị tư vấn những vấn đề có liên quan đến pháp luật hay đời sống thường ngày của họ. Thực tế, hiện nay việc tiếp cận thông tin của công dân về thủ tục hành chính của Chính phủ và các cơ quan công quyền bằng nhiều cách khác nhau: Qua Trang thông tin điện tử, qua Công báo, phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, tạp chí, niêm yết tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền giải quyết,... Số lượng người truy cập vào các trang thông tin điện tử và văn bản của Chính phủ cũng như của các bộ, ngành và địa phương ngày càng tăng. Nhìn chung, các thông tin liên quan đến thủ tục hành chính đã được cơ quan có thẩm quyền đăng tải, công bố trên cổng (trang) thông tin điện tử của bộ, ngành, địa phương, trên công báo và trên các phương tiện thông tin đại chúng,... Bên cạnh việc công bố, công khai kể trên, một hình thức công khai quan trọng nhất được áp dụng trong việc giải quyết các thủ tục hành chính, đó là niêm yết tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính. Các hình thức công khai trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân khai thác, tìm kiếm các thông tin liên quan đến thủ tục hành chính, đất đai, kinh tế, dân sự,... Qua đó góp phần không nhỏ trong tiến trình thực hiện chương trình cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ, giảm bớt phiền hà, tốn kém cho người dân.

- Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện đầy đủ quy chế dân chủ cơ sở phù hợp với Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (năm 2007). Trên cơ sở đó nâng cao năng lực đấu tranh phòng chống tội phạm, ngăn chặn các hành vi tiêu cực, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn, giải quyết kịp thời các vụ việc khiếu kiện của người nông dân, không để gây thành những điểm nóng (tập trung khiếu kiện đông người ở địa phương cũng như ở trung ương); tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện bình đẳng giới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, năng lực và vị thế của phụ nữ ở nông thôn. Trong xây dựng kế hoạch, quy hoạch về xây dựng nông thôn mới cũng cần phải có sự tham khảo ý kiến của người nông dân. Bởi vì người nông dân nông thôn đóng vai trò chủ thể chính trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội nông thôn ngày nay. Nông dân phải tích cực tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng quan điểm, đường lối của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những vấn đề liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân, góp phần sao cho những quan điểm đó phù hợp với những điều kiện của Việt Nam, của từng địa phương và đáp ứng được những nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nông dân. Nếu thiếu sự tham gia này sẽ không tạo được sự đồng thuận xã hội dẫn đến mọi chủ trương, chính sách và pháp luật khó đi vào thực tiễn cuôc sống.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc, đánh giá khả năng, nhu cầu, cơ hội và các điều kiện cần thiết trong việc tiếp cận pháp luật của người dân vùng nông thôn, giám sát việc thi hành pháp luật, đặc biệt là hoạt động áp dụng pháp luật để kịp thời phát hiện và khắc phục những khiếm khuyết, yếu kém của hoạt động này, xử lí những chủ thể cố ý áp dụng pháp luật không đúng, không phù hợp với mục đích đặt ra. Các cơ quan chức năng phải thường xuyên rà soát, tổng kết và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội.

- Cần phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa các Chương trình kinh tế - xã hội nông thôn (các chính sách như xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, y tế, giáo dục, môi trường, đời sống văn hóa,...) để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân nông thôn, nhất là tại các vùng khó khăn. Tập trung nguồn lực và tăng cường chỉ đạo thực hiện đồng bộ chiến lược về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo. Đặc biệt quan tâm tới miền núi, vùng sâu, vùng xa và các huyện, xã có tỉ lệ hộ nghèo cao, các vùng hải đảo, vùng bãi ngang và đồng bào các dân tộc thiểu số.

 

Tài liệu tham khảo

 

  1. Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), “Nghị quyết 26-NQ/TW khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”.
  2. Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), “Kết quả số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09-12-2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016”, Hà Nội.
  3. Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp (2014), “Thông tư liên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/01/2014 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở”, Hà Nội.
  4. Chỉ thị số 32/CT-TƯ ngày 09/12/2003 của Ban bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”.
  5. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), “Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”, Hà Nội.
  6. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), “Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 của quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật”, Hà Nội.
  7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), “Báo cáo tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”, Hà Nội.
  8. Nghị quyết số 17- NQ/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5 khóa IX về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở xã, phường, thị trấn”.
  9. Nghị quyết liên tịch số 01/1999/NQLT-TP-VHTT-NNPTNT-DTMN-ND ngày 07/9/1999 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban Dân tộc và Hội Nông dân Việt Nam về việc phối hợp phổ biến pháp luật, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người.
  10. Nguyễn Xuân Thắng (2015), “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân và giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật và các thể chế tự quản trong xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 91.
  11. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), “Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 về việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật”, Hà Nội.
  12. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), “Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24/01/2013 về ban hành Quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở”, Hà Nội.
  13. Trương Văn Dũng (2008), “Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý nhà nước và quản lý xã hội vì mục tiêu phát triển con người”, Tạp chí Nghiên cứu Con người, Số 5.
  14. Trương Văn Dũng (2016) “Quyền tiếp cận pháp luật của người dân: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu Con người, Số 3.
  15. Vũ Minh Chi (2009), “Tiếp cận dựa trên quyền sự gắn kết giữa quyền và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu Con người, Số 2.

 


* TS.; Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

[1] Bài viết trong khuôn khổ Nhiệm vụ cấp Bộ năm 2015 - 2016: “Người nông dân với tiếp cận pháp luật” do TS. Trương Văn Dũng, Viện Nghiên cứu Con người làm Chủ nhiệm.

 

 

Trương Văn Dũng

The older news.............................