Báo chí, công luận và lòng tin trong xã hội

16/03/2020

BÁO CHÍ, CÔNG LUẬN VÀ LÒNG TIN TRONG XÃ HỘI

TRẦN HỮU QUANG*

Trong giới nghiên cứu về truyền thông đại chúng cũng như giới chính trị và ngay giới nhà báo ở các nước công nghiệp phát triển, người ta thường trở đi trở lại với câu hỏi sau: Giới truyền thông tạo nên công luận, hay họ chỉ là người phát ngôn của công luận? Các nhà chính trị ở các nước ấy thỉnh thoảng vẫn quy kết giới nhà báo là thiếu khách quan trong việc tác động đến công chúng, và thậm chí thường hay tạo nên những luồng dư luận không có lợi cho họ. Còn về phía truyền thông đại chúng, các nhà báo cũng thường tự biện hộ bằng cách cho rằng thực ra họ chỉ phản ánh lại ý kiến của các giới công chúng khác nhau mà thôi, và họ không làm gì khác hơn là “phát ngôn viên” của công luận. Trong lĩnh vực học thuật, dường như cuộc tranh luận kéo dài về vấn đề này vẫn chưa đi tới những kết luận ngã ngũ mang tính phổ quát và thuyết phục được mọi người. Có lẽ câu trả lời thỏa đáng chỉ có thể tìm thấy được trong những công trình phân tích hạn hẹp vào những trường hợp cụ thể trong những bối cảnh lịch sử xã hội đặc thù nhất định mà thôi.

Bài viết này sẽ thử tìm lời giải đáp cho câu hỏi trên, và từ đó, bàn luận về mối quan hệ giữa báo chí, công luận, và lòng tin trong xã hội - xét như những nhân tố có tầm quan trọng thiết yếu trong đời sống xã hội hiện đại.

1. Khái niệm công luận

Trong thực tế, không phải ai cũng hiểu giống nhau về thuật ngữ “công luận”. Và người ta cũng thường sử dụng lẫn lộn những thuật ngữ như “dư luận”, “công luận”, “dư luận xã hội” hay “dư luận quần chúng” trong những bối cảnh hết sức khác nhau, đôi khi nhằm vào những mục tiêu cụ thể nhất định. Nhân viên trong một xí nghiệp chẳng hạn, khi nói tới dư luận thường muốn nói tới một số ý kiến của một số người lao động nào đó trong đơn vị. Nhà báo khi sử dụng thuật ngữ này thường chủ yếu dựa trên phản hồi của một số độc giả của tờ báo, hoặc dựa trên khối lượng thư từ mà tờ báo nhận được hàng ngày,... Patrick Champagne, một nhà xã hội học thuộc nhóm nghiên cứu của Pierre Bourdieu ở Pháp, nhắc lại một ý tưởng của Bourdieu cho rằng công luận (opinion publique trong tiếng Pháp) là một khái niệm khá mơ hồ, bởi lẽ nó là một khái niệm chính trị chứ không phải là một khái niệm khoa học, và chỉ các nhà thăm dò dư luận mới khoác lên cho nó một định nghĩa có vẻ khoa học: Công luận chính là ý kiến nào chiếm đa số trong những câu trả lời cho một câu hỏi phỏng vấn nào đó.1 Trong bối cảnh của nền báo chí ở các nước Tây phương, P. Champagne đã cảnh giác về xu hướng “thương mại hóa” của các tờ báo khi sử dụng kết quả thăm dò dư luận một cách máy móc vào việc điều chỉnh nội dung tờ báo sao cho phù hợp tối đa với thị hiếu và nguyện vọng của bạn đọc, với mục đích đơn giản là chỉ cốt làm sao cho tờ báo có thể bán chạy; và trong trường hợp như vậy thì hệ quả là tờ báo không còn làm nhiệm vụ thông tin đúng nghĩa nữa, mà chỉ là “chạy theo” thị hiếu của độc giả, và thậm chí có khi còn rơi vào xu hướng “mị dân”.2

Công luận, hay cũng có thể gọi là dư luận xã hội (tương ứng với thuật ngữ public opinion trong tiếng Anh), theo tác giả Mai Quỳnh Nam, “là sự thể hiện tâm trạng xã hội, phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại”.3 Tính đặc thù của công luận là ở chỗ nó không thuần túy là một hiện tượng tâm lý tinh thần, mà nó là một “cấu trúc tinh thần - thực tế”, nghĩa là nó là “cầu nối giữa ý thức xã hội và hành động xã hội”.4 Chủ thể của công luận bao gồm nhiều thành phần và tầng lớp khác nhau. Vì thế, khi nghiên cứu về công luận, chúng ta “phải phân tích nó trong cấu trúc các quan hệ xã hội, vì bản chất của công luận phản ánh vị thế xã hội trong sự tương tác với các cá nhân và các nhóm xã hội được tạo nên bởi các quan hệ xã hội và các lợi ích của họ”.5 Công luận có các chức năng sau: điều hòa các mối quan hệ xã hội, kiểm soát xã hội, giáo dục, và khuyên bảo.6 Ở Việt Nam, việc khảo sát và thăm dò công luận một cách có hệ thống về các vấn đề của xã hội cho đến nay có lẽ chưa nhiều. Mặc dù có thể có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này, nhưng chúng tôi nghĩ rằng lĩnh vực nghiên cứu về công luận là một yêu cầu có thực và cấp bách.7

2. Truyền thông đại chúng và công luận

Truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Việc đọc báo, xem truyền hình và nghe ra-đi-ô từ lâu đã trở thành một tập quán sinh hoạt thông dụng trong đời sống thường nhật của người dân. Tờ báo, ti-vi và ra-đi-ô đã trở thành những thứ thân thuộc gần như không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người và mỗi gia đình. Truyền thông đại chúng, với tư cách là một phần hữu cơ trong công việc và sinh hoạt hàng ngày của người dân, đã thực sự trở thành một định chế xã hội thiết yếu.

Người ta thường coi những loại hình thuộc về phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, sách, đài phát thanh, đài truyền hình, điện ảnh, băng đĩa âm nhạc,... Nhưng hiện nay, bên cạnh những phương tiện ấy, còn xuất hiện thêm những loại hình phương tiện truyền thông mới dựa trên nền tảng công nghệ Internet (thường được gọi là new media), trong đó đặc biệt đáng chú ý là các loại hình truyền thông xã hội (social media) mà cho đến nay người ta vẫn chưa hình dung được hết những ứng dụng và những hệ quả có thể có của chúng đối với đời sống cá nhân cũng như đời sống xã hội.

Ngày nay, có lẽ không ai phủ nhận vai trò hết sức quan trọng của truyền thông đại chúng (mass media) và truyền thông xã hội (social media, hay truyền thông công cộng -  public media) trong quá trình hình thành công luận.

Trong các xã hội cổ xưa, khi chưa có các phương tiện truyền thông đại chúng hay truyền thông xã hội, thì đã có hiện tượng công luận tác động và chi phối tâm tư, suy nghĩ và hành động của mỗi người. Nhưng kể từ khi ra đời các phương tiện thông tin đại chúng trong xã hội hiện đại, nhất là ở các khu vực đô thị, thì đặc điểm và tính năng động của công luận đã chuyển sang một bước mới: sự hình thành công luận đã chuyển từ giai đoạn mang tính chất truyền khẩu hay truyền miệng sang một giai đoạn mới mang tính chất văn bản thông qua các kênh truyền thông đại chúng.

Theo Mai Quỳnh Nam, “hệ thống truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và thể hiện công luận”8 (chúng tôi nhấn mạnh). Các phương tiện truyền thông đại chúng không chỉ tác động vào việc hình thành nên công luận, mà đồng thời cũng “thể hiện” công luận. Ở đây, chúng ta không thể quan niệm công chúng như những người thụ động, trái lại, họ cũng là chủ thể có thể tác động trở lại các phương tiện truyền thông đại chúng. Do đó, “mối quan hệ giữa báo chí và công chúng trong việc hình thành và thể hiện công luận mang tính chất biện chứng”.9 Mặt khác, một đặc điểm cũng hết sức quan trọng trong mối quan hệ này là “sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng với các nhóm công chúng rất khác nhau, do những khác biệt về địa vị xã hội, về quyền lợi giai cấp, về các nhân tố tâm lý và về cường độ giao tiếp đối với phương tiện truyền thông”.10 Chính vì thế, lối tiếp cận biện chứng và lối tiếp cận cấu trúc xã hội là điều không thể thiếu khi nghiên cứu về công luận.

Công luận luôn luôn có mối liên hệ chặt chẽ với truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội. Lẽ tất nhiên, giả thuyết về sự gắn bó chặt chẽ, cũng như chặt chẽ đến mức độ nào, còn cần được kiểm chứng qua những cuộc điều tra thực nghiệm, tùy thuộc vào từng bối cảnh xã hội cụ thể. Nhiều công trình điều tra ở các nước phương Tây đã khẳng định về sự tồn tại của mối quan hệ tác động giữa truyền thông đại chúng với công luận. Người ta nhận thấy là khi đứng trước những vấn đề thời sự quan trọng mà báo chí đăng tải, ý kiến hay quan điểm của người dân đối với vấn đề này hay vấn đề khác có thể không thay đổi (vì truyền thông đại chúng chưa chắc đã có thể thay đổi được ý kiến và suy nghĩ của người dân trong ngày một, ngày hai), nhưng những vấn đề đó có thể trở thành những mối quan tâm thời sự hàng đầu đối với họ - do tác động của truyền thông đại chúng.

G. R. Funkhauser từng tiến hành một cuộc nghiên cứu đối chiếu giữa những vấn đề được công chúng Mỹ quan tâm nhất và những vấn đề được đăng tải nhiều nhất trên báo chí (trên ba tờ tuần báo Time, NewsweekU.S. News) trong thời gian từ năm 1960 đến năm 1970 (bảng 1). Theo tác giả này, kết quả khảo sát đã chứng minh rằng công luận thực ra chỉ phản ánh lại quan điểm của các phương tiện truyền thông đại chúng.11

Bảng 1: Thứ tự các vấn đề được đề cập trên các tuần báo từ năm 1960 đến năm 1970, và thứ tự “các vấn đề quan trọng nhất mà Hoa Kỳ phải đương đầu”

(theo sự trả lời của người dân) cũng trong khoảng thời gian này

Các vấn đề

Số lượng bài báo

Thứ tự

 quan trọng

 của các vấn đề trên các tuần báo

Thứ tự

 quan trọng

 của các vấn đề,

 theo người dân

Chiến tranh Việt Nam

861

1

1

Vấn đề chủng tộc

687

2

2

Sự phản kháng của sinh viên

267

3

4

Lạm phát

234

4

5

Tivi và các phương tiện truyền thông

218

5

12

Tội ác

208

6

3

Ma túy

173

7

9

Môi trường

109

8

6

Hút thuốc lá

99

9

12

Nghèo đói

74

10

7

Tình dục

62

11

8

Quyền của nữ giới

47

12

12

Khoa học và xã hội

37

13

12

Dân số

36

14

12

 

Nguồn: G.R. Funkhauser (1991), trích lại theo Judith Lazar,

 Sociologie de la communication de masse, Paris, Armand Colin, Tr. 152.

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng lưu ý rằng mối liên hệ tương quan giữa hai phía trên đây không phải lúc nào cũng chặt chẽ. Người ta nhận thấy trong nhiều trường hợp, có những vấn đề được nhấn mạnh trên các phương tiện truyền thông, nhưng vẫn không nhất thiết trở thành “vấn đề quan trọng” dưới con mắt của công chúng.

Liên quan tới việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và công luận, người ta thường còn cần có một lối tiếp cận nữa, đó là lối tiếp cận văn hóa. Chúng ta biết rằng cả giới truyền thông lẫn công chúng của họ đều chịu sự chi phối của những định hướng giá trị, những chuẩn mực xã hội và những mô hình văn hóa chủ đạo của xã hội mà họ đang sống. Vì thế các sản phẩm truyền thông lẫn công luận đều không nằm ngoài sự chi phối này.12

Ở đây, chúng ta có thể dẫn ra một ví dụ điển hình. Đó là hình ảnh xã hội của nhà kinh doanh trong tâm thức văn hóa của xã hội Việt Nam truyền thống. Trật tự “đẳng cấp” của xã hội Việt Nam cổ truyền là “sĩ, nông, công, thương”, trong đó kẻ sĩ được đưa lên hàng đầu, người làm nghề buôn bán đứng vào hạng chót, và người sản xuất tiểu thủ công đứng hạng áp chót, thua cả người làm nông. Nói cách khác, đó là một trật tự mang tính chất định kiến xem thường những người kinh doanh. Ngày nay, mặc dù không còn ai nói tới trật tự cổ xưa này nữa, nhưng theo giả thuyết của chúng tôi, nó vẫn còn tồn tại dưới dạng này, dạng khác, ở mức độ này hay mức độ khác trong tâm thức sâu xa của không ít người thuộc mọi tầng lớp xã hội. Nếu phân tích ngôn từ sử dụng trên sách, báo, văn bản, hay trong đời sống hàng ngày, chúng ta có thể nhận diện ra được một số quan niệm mang tính chất định kiến vẫn còn ít nhiều lẩn khuất trong các mô hình văn hóa nơi các tầng lớp cư dân trong xã hội, không loại trừ ngay nơi bản thân giới làm công tác truyền thông. Điều này được phản ánh thông qua những cụm từ như “con buôn”, “bị tư thương ép giá”, “bị tư nhân lôi kéo”,… - làm như thể “tư nhân” hoặc “tư thương” chỉ gồm toàn là những kẻ tham lam, xấu xa.

Đó là chưa kể một số định kiến khác như đề cao và ưu ái cho doanh nghiệp nhà nước hơn là doanh nghiệp tư nhân, hoặc trọng vọng nhà đầu tư nước ngoài hơn nhà đầu tư trong nước. Những định kiến vừa nêu thực ra không thuần túy xuất phát từ tâm thức văn hóa mà còn phản ánh những điều kiện kinh tế-xã hội hiện thực mang tính chất định chế.

Đấy chỉ là một trong số nhiều ví dụ có thể có về mối quan hệ tác động giữa truyền thông đại chúng và công luận. Để trả lời cho câu hỏi: giới làm công tác truyền thông đại chúng tạo nên công luận, hay họ chỉ là người phát ngôn của công luận, có lẽ câu trả lời thích hợp là cả hai vế của câu hỏi đều đúng. Truyền thông đại chúng tác động vào công luận, nhưng đồng thời cũng phản ánh công luận và từ đó góp phần củng cố thêm những định hướng giá trị và mô hình văn hóa chủ đạo trong xã hội.

Tuy nhiên, nếu truyền thông đại chúng tác động vào công luận, với tư cách là “cầu nối giữa ý thức xã hội và hành động xã hội”, theo chiều hướng tích cực và tiến bộ, thì nó có khả năng góp phần kiến tạo nên động lực mới cho xã hội. Còn khi nó tác động theo chiều hướng tiêu cực và bảo thủ, thì hẳn nhiên hậu quả là ngược lại.

3. Khái niệm lòng tin trong xã hội

Trong giới nghiên cứu khoa học xã hội trên thế giới, khi nói tới vốn xã hội, người ta thường hiểu là bao gồm ba yếu tố sau đây: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực xã hội, và lòng tin trong xã hội - vốn là những cái được coi là giúp cho các thành viên có thể sống với nhau và hợp tác làm việc với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới những mục tiêu chung - theo định nghĩa của James Coleman và Robert Putnam.13

Ở đây, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “lòng tin” không phải theo nghĩa niềm tin tôn giáo (tiếng Anh là faith), mà theo nghĩa lòng tin giữa con người với nhau trong cuộc sống xã hội (tiếng Anh là social trust). Trong tiếng Việt, còn có nhiều từ khác diễn đạt hiện tượng này như tin cậy, tin cẩn, hay tin tưởng.

Trong giới xã hội học, lòng tin (hay sự tin cậy) vào người khác là một hiện tượng xã hội-tâm lý-văn hóa tổng hợp, và tâm thế này được coi là một trong những điều kiện căn bản để có thể duy trì đời sống tập thể. Người ta không thể sống được với nhau nếu không tin nhau. Theo Từ điển Oxford thì “trust” (tin cậy) là tin rằng người nào đó hay cái gì đó là tốt, thành thật, tử tế,… và người đó hay cái gì đó sẽ không làm hại mình hay đánh lừa mình. Nhà xã hội học Anthony Giddens viết như sau: “Có thể nói sự tin cậy là một phương tiện làm ổn định các mối quan hệ tương giao [giữa con người với nhau]. Có thể tin cậy vào một người khác là có thể tin rằng người này sẽ có một loạt những phản ứng mà mình mong đợi.14

Tin cậy nhau có nghĩa là yên tâm cho rằng người khác cũng nghĩ như mình và sẽ cư xử đúng như mình mong đợi, tin rằng họ thành thật và sẽ không làm hại mình hay đánh lừa mình. Đây là một tâm thế cởi mở, không hoài nghi và không có định kiến với người khác. Có thể nói sự tin cậy là một trong những kích thước then chốt của tất cả các mối quan hệ giữa con người với nhau, cả trong đời sống riêng tư lẫn đời sống công cộng.

Gia đình và cộng đồng là những tập thể mà người ta thường coi là điển hình cho mối quan hệ tin cậy giữa con người với nhau. Hai ý niệm bạnthù tiêu biểu cho sự đối lập giữa thái độ tin cậy và thái độ ngờ vực.15 Trong phạm vi một tổ chức hay nói rộng ra cả phạm vi xã hội, người ta không thể quản lý một cách có hiệu quả bằng sự hoài nghi và lại càng không thể bằng sự sợ hãi, mà trước hết phải bằng lòng tin vào người khác, nhất là trong môi trường xã hội hiện đại.16 Ngay cả trong lĩnh vực kinh doanh, người ta cũng phải dựa trên sự tin cậy để giao dịch làm ăn, buôn bán với nhau, bởi vì cuộc sống xã hội không thể ổn định và bền vững nếu mỗi cá nhân chỉ hành xử thuần túy dựa trên tính toán lợi ích cá nhân.17 Emile Durkheim từng nói một câu nổi tiếng: “Trong một hợp đồng, không phải cái gì cũng mang tính chất hợp đồng.”18

Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây, theo chúng tôi, là như sau: Nguồn gốc của sự tin cậy trong xã hội không phải xuất phát từ lòng tốt hay từ thiện ý chủ quan của từng cá nhân, mà về căn bản là dựa trên nền tảng định chế xã hội. Nói cách khác, sự tin cậy tồn tại trên nền tảng của các quy ước và các chuẩn mực xã hội trong khuôn khổ của những định chế xã hội nhất định. Trong xã hội cổ truyền, người ta tin nhau vì cùng là thành viên của một định chế xã hội nào đó, như làng xã, dòng tộc hay cộng đồng tôn giáo. Mỗi thành viên yên tâm rằng các thành viên khác (trong cùng một cộng đồng) sẽ cư xử với mình phù hợp với những quy tắc và chuẩn mực mà cả cộng đồng cùng chia sẻ. Phạm vi bán kính của sự tin cậy này nói chung là hẹp, đóng kín; các mối liên hệ xã hội thường là trực tiếp và mặt đối mặt (face to face). Trong xã hội hiện đại, ngoài những mối liên hệ trực tiếp trong gia đình hay giữa bạn bè thân thiết với nhau, người ta còn có những mối liên hệ giao tiếp rộng rãi hơn ngoài xã hội, và trong nhiều trường hợp còn mang tính chất phi nhân xưng hoặc nặc danh. Những định chế mang tính chất trung giới (mediation) giữa cá nhân với xã hội không còn là những định chế cổ truyền (như làng xã hay dòng tộc), mà là những định chế xã hội đa dạng của xã hội hiện đại (trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội). Ngoài phạm vi gia đình và những nhóm xã hội nhỏ, cơ sở xã hội của sự tin cậy giữa các cá nhân với nhau trong đời sống xã hội lúc này phần lớn không còn dựa trên phong tục và tình cảm như trong xã hội cổ truyền, mà chủ yếu dựa trên luật pháp và lý tính.

Lấy một ví dụ nằm trong sinh hoạt sơ đẳng nhất của xã hội đô thị, đó là việc đi lại trên đường phố. Sở dĩ tôi yên tâm chạy xe vượt qua ngã tư khi thấy đèn xanh là vì tôi tin tưởng rằng những người khác phải dừng lại khi thấy đèn đỏ ở giao lộ. Người ta khó lòng mà thiết lập được một trật tự giao thông an toàn và bình thường nếu không có lòng tin tối thiểu này. Cơ sở của lòng tin này không là gì khác ngoài định chế giao thông đô thị, chứ không phải nằm trong ý thức chủ quan của từng cá nhân. Nói cách khác, sở dĩ người ta có thể tin tưởng lẫn nhau (một cách mặc nhiên) khi đi đường chính là nhờ vào một định chế xã hội (bao gồm luật giao thông, cảnh sát giao thông, hệ thống tín hiệu,… và nhất là các biện pháp xử phạt khi vi phạm để đảm bảo cho các quy tắc giao thông được mọi người tôn trọng). Nếu định chế xã hội này bị trục trặc hay lỏng lẻo, chẳng hạn nếu người ta có thể vượt đèn đỏ thoải mái mà không bị phạt, thì hậu quả tất yếu của tình trạng này là phá vỡ sự tin cậy nói trên: ai cũng mắt trước mắt sau mỗi khi đến ngã tư, và lúc nào cũng phải thấp thỏm đề phòng dù mình đang gặp đèn xanh, vì kẻ vi phạm cứ việc giành đường và chạy ẩu mà không bị thổi còi, trong khi người đi đúng luật lại bị phiền nhiễu và có khi gặp vạ, đến đèn đỏ mà dừng lại có khi bị chửi, hoặc bị xe sau tông vào mình. Xét về mặt tâm lý xã hội, tình hình chạy xe vô kỷ luật có thể dẫn tới những hệ quả sâu xa và nghiêm trọng hơn là chuyện an toàn giao thông: a) lòng tin vào người khác dần bị xói mòn, gia tăng tâm lý hoài nghi và bất an mỗi khi bước chân ra đường phố; b) người ta không còn tin vào sự nghiêm minh của luật pháp; và c) người ta có thể rút ra những kết luận như vi phạm thì không sao cả, làm đúng luật là khờ dại, và tai hại hơn hết là làm điều càn quấy thì có lợi hơn là làm điều ngay19.

Mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân luôn luôn diễn ra trong khuôn khổ của những định chế xã hội nhất định, và luôn luôn tuân theo các quy tắc và chuẩn mực của những định chế này. Vì thế, lòng tin giữa các cá nhân với nhau hẳn nhiên là hệ quả của những đặc trưng của những định chế này, và phụ thuộc vào sự cảm nhận của các cá nhân đối với những định chế ấy.20

Một ví dụ khác về sự tin cậy trong xã hội là chữ “tín” trong kinh doanh. Lâu nay nhiều người thường hay nhắc đến chữ “tín” như là một đặc điểm trong truyền thống kinh doanh của người Việt gốc Hoa. Thế nhưng trong thế giới kinh doanh ở các nước tư bản công nghiệp, người ta cũng đề cao giá trị của chữ “tín”. Vậy hai chữ “tín” này có gì khác nhau hay không ? Theo chúng tôi, ít ra có một điểm khác biệt rất căn bản.

Trong khuôn khổ xã hội truyền thống, chữ “tín” trong kinh doanh thường được đặt nền tảng trên tập quán, phong tục, và tình cảm. Nhà kinh doanh cổ truyền có thể bán chịu một món hàng nhỏ cho khách hàng dù chưa quen biết. Nhưng chữ “tín” này không phải hoàn toàn vô điều kiện, bởi lẽ với những vụ làm ăn lớn, họ chỉ xác lập niềm tin vào một đối tác nào đó sau quá trình trải nghiệm trực tiếp, và thường dựa trên những mạng lưới xã hội thân thuộc như đồng tộc, đồng hương,… để mở rộng các quan hệ giao dịch làm ăn.

Trong khi đó, trong xã hội hiện đại, chữ “tín” trong hoạt động kinh doanh mặc dù cũng thường kinh qua trải nghiệm nhưng lại được xác lập chủ yếu dựa trên nền tảng luật pháp và lý tính. Chính những nền tảng này làm cho các mối quan hệ giao dịch có thể khuếch trương mạnh hơn và rộng hơn nhiều so với lối kinh doanh cổ truyền. Nhà kinh doanh có thể yên tâm ký kết hợp đồng với một nhà sản xuất nào đó ở một quốc gia khác cách xa hàng ngàn cây số, dù có thể chưa quen biết, thân thiết, vì tin rằng nếu nhà sản xuất ấy không tôn trọng hợp đồng thì sẽ có thể viện đến sự can thiệp của luật pháp - nhờ những thỏa thuận về tư pháp đã ký kết giữa hai quốc gia. Trong trường hợp này, sự tin cậy đã có sẵn một khuôn khổ pháp lý để được bảo vệ.

Trong cuốn Sự bí mật và những hội kín (1908), Georg Simmel cho rằng “mọi mối quan hệ giữa con người với nhau đều đương nhiên dựa trên sự kiện là họ biết gì đó về nhau”.21

Trong buôn bán, người chủ tiệm biết là khách hàng của mình muốn mua món hàng tốt nhất với giá thấp nhất; người thầy giáo biết là mình có thể đòi hỏi sinh viên phải đạt được một số kiến thức nào đó; vị giám đốc xí nghiệp biết là mình có thể yêu cầu một khối lượng và một chất lượng sản phẩm nào đó đối với công nhân,… Nếu không có sự hiểu biết đó, thì hoàn toàn không thể có bất cứ sự tương giao nào trong xã hội.

Niềm tin là một sự đánh cược. Theo Simmel, nếu đã biết hết thì không cần phải tin cậy, nhưng ngược lại, nếu không biết gì hết thì cũng không thể tin cậy một cách hợp lý. Ông gọi sự tin cậy là “một tình trạng trung gian giữa sự hiểu biết và sự không hiểu biết”, và ông coi sự tin cậy là một giả thuyết về một ứng xử tương lai, khá chắc chắn để người ta có thể dựa trên đó mà hành động.22 Theo Simmel, trong những xã hội phức tạp và phát triển, “cuộc sống dựa trên hàng ngàn điều kiện tiên quyết mà cá nhân hoàn toàn không thể nào tìm hiểu hay kiểm chứng cho đến tận nền tảng của chúng, mà buộc phải chấp nhận tin cậy vào chúng”.23

Simmel coi lòng tin cậy là một trong những thuộc tính chủ yếu, thậm chí là thuộc tính đầu tiên của các xã hội hiện đại; ông coi các xã hội này là những xã hội của lòng tin cậy. Trong những xã hội này, cuộc sống của chúng ta phụ thuộc phần lớn vào niềm tin vào người khác và vào sự lương thiện của người khác. “Những quyết định quan trọng nhất của chúng ta thường dựa trên một hệ thống các quan niệm phức tạp mà phần lớn trong đó đều dựa trên sự đoán chắc là mình không bị đánh lừa”24.

Chính vì lẽ đó mà F. Terré nói tới khái niệm “sự tin cậy được pháp điển hóa” (confiance juridicisée) xét như một sự tiến bộ của nền luật pháp hiện đại, khi mà, thông qua việc ký kết một hợp đồng, người ta có thể dự liệu được tương lai, lồng được tương lai vào trong một bản thỏa thuận dân sự.25

Theo Niklas Luhmann, càng mở rộng sự tin cậy, người ta càng mở rộng tiềm năng cho hoạt động của mình; sự tin cậy là một thứ “nền tảng cho sự an toàn” của cá nhân.26 Ông viết: “Người ta có thể đủ sức để chấp nhận một mức độ tin cậy bấp bênh hay kể cả tình trạng không ai tin ai [trong xã hội], bao lâu mà người ta vẫn còn tin cậy vào luật pháp.”27

4. Báo chí và lòng tin trong xã hội

Người ta đọc báo không chỉ để biết tin tức và để theo dõi tình hình thời sự, mà quan trọng hơn, còn là để hiểu thời cuộc mà người ta đang sống. Do vậy, nếu báo chí không đảm nhiệm trọn vẹn sứ mệnh của mình, thì khả năng độc giả không tín nhiệm vào tờ báo là điều khó tránh khỏi.

Báo chí là một chiếc cầu nối không thể thiếu giữa người dân với xã hội. Vì thế, một trong những chức năng xã hội quan trọng của báo chí là nuôi dưỡng sự gắn bó của người dân với đời sống xã hội, và từ đó, sâu xa hơn, củng cố lòng tin của người dân vào các giá trị xã hội. Một bài phóng sự về một vụ tiêu cực hay tham ô chẳng hạn không thể bị quy kết là một bài báo “bôi đen” xã hội hoặc nói xấu nhà nước, mà cần được nhìn nhận như một cơ hội gia tăng sự tín nhiệm của người dân vào chủ trương chống tham nhũng của nhà nước. Ngược lại, nếu báo chí chỉ thông tin một chiều và “tô hồng” thì điều này sẽ khiến độc giả không chỉ nghi ngờ sự kiện mà tờ báo đưa tin mà còn nghi ngờ cả bản thân tờ báo. Điều đáng nói là một khi tình hình này trở nên phổ biến thì nguy cơ nảy sinh tình trạng mất lòng tin trong xã hội là điều khó lòng ngăn chặn.

Một cách tổng quát, có thể nói rằng độ tin cậy của một nền báo chí cũng biểu hiện độ tin cậy của chính hệ thống xã hội. Chính vì thế, để củng cố và gia tăng lòng tin trong xã hội - một trong những động lực của sự phát triển trong xã hội hiện đại, không thể không cổ xúy và tôn trọng tính trung thực, tính khách quan và tính dũng cảm của nhà báo trong khuôn khổ của một không gian tự do ngôn luận và tự do báo chí.

Xã hội hiện đại là một xã hội mang tính chất thế tục, nghĩa là trong đó con người không còn tư duy dựa trên nền tảng của những trật tự siêu nhiên hay siêu việt nữa, mà là thông qua sự thảo luận, tức là thông qua hoạt động truyền thông, nhờ đó con người có thể đi đến một sự thỏa thuận (hay đồng thuận, hay khế ước) về chuyện chung sống với nhau như thế nào một cách chính đáng (legitimate).

Georg Hegel từng viết trong cuốn Các nguyên lý của triết học pháp quyền (1821) như sau: “Nguyên tắc của thế giới hiện đại đòi hỏi rằng những gì buộc con người phải nhìn nhận thì bản thân chúng phải tự chứng tỏ là chính đáng đã.”28 Nói cách khác, những điều mà người ta coi là “chính đáng” phải là những điều xuất phát từ một quá trình thảo luận tự do, tức là tự do ngôn luận, ít nhất về mặt chính thức. Và do vậy chúng ta mới hiểu tại sao khái niệm “công luận” (public opinion) ngày nay trở nên quan trọng.29

Theo Hegel, “trong dư luận quần chúng có cả cái đúng lẫn cái sai”, nhưng việc nhìn ra những điều đúng đắn trong đấy “chính là công việc của bậc vĩ nhân”. Ông viết: “Ai thể hiện được ý nguyện của thời đại mình, ai nói cho thời đại mình biết điều mà thời đại mong muốn, và hoàn thành ý nguyện ấy, là vĩ nhân của thời đại.”30 Để biết được “ý nguyện” của dân chúng, để biết được công luận, hiển nhiên là phải tôn trọng và tạo điều kiện cho quyền tự do ngôn luận, và hệ luận của điều này là quyền tự do báo chí. Theo Hegel, “sự tự do ngôn luận bao giờ cũng được xem là ít nguy hiểm hơn so với sự im lặng, bởi nếu nhân dân im lặng, sợ rằng họ sẽ giữ mãi trong lòng sự chống đối, trong khi việc tự do lý sự sẽ mở lối thoát và mang lại cho họ một mức độ thỏa mãn nào đó, khiến công việc được tiến hành dễ dàng hơn”.31 Đối với Hegel, dĩ nhiên tự do báo chí hoàn toàn không phải là “tự do tha hồ nói và viết những gì mình thích”, bởi lẽ nếu nghĩ như vậy thì cũng không khác gì nói rằng “sự tự do nói chung có nghĩa là muốn làm gì thì làm”, và cách hiểu này là “sản phẩm của lối suy nghĩ còn hoàn toàn thiếu văn hóa, thô lậu và nông cạn”.32

Tháng 5/1842, trên tờ nhật báo Rheinische Zeitung, C.Mác đã nhận diện ra ba loại hình công chúng có thể có khi một nền báo chí sa vào tệ giả dối và tệ tiêu cực: một là nhóm “mê tín về chính trị”, hai là nhóm “không tin tưởng về chính trị”, và ba là nhóm “hoàn toàn quay lưng lại với cuộc sống của quốc gia, biến thành đám người chỉ sống với cuộc đời riêng tư”. C.Mác nhấn mạnh rằng nền báo chí ấy “có tác dụng làm suy đồi đạo đức” trong xã hội.33

C.Mác từng nhận định rằng công luận là sản phẩm của truyền thông.34 Quả thực, chúng ta có thể nói rằng mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng với công luận và lòng tin trong xã hội là một mối quan hệ đan quyện chặt chẽ vào nhau một cách biện chứng. Vì thế, nếu thực sự muốn đo lường lòng tin trong xã hội thì không có cách nào khác ngoài việc khảo sát công luận cũng như việc nghiên cứu về thực trạng tự do báo chí nói riêng và sinh hoạt truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội nói chung.

Tài liệu tham khảo

1.        Akoun, André, et Pierre Ansart (Dir.) (1996), Dictionnaire de sociologie, Paris, Le Robert, Seuil.

2.        Bernoux, Philippe, et Jean-Michel Servet (Dir.) (1997), La construction sociale de la confiance, Montchrestien, Coll. Finance et Société.

3.        Champagne, Patrick (1996), “La presse, la télévision et l'opinion publique”, Bài thuyết trình tại Grenoble (Pháp).

4.        Le Doute et le droit (Ouvrage collectif) (1994), Paris, Dalloz, Coll. Philosophie et théorie générale du droit.

5.        Durkheim, Émile (1983), De la division du travail social.

6.        Galland, Olivier (2002), “Les dimensions de la confiance”, Futuribles, No. 277, juillet-août.

7.        Giddens, Anthony (1996), Social Theory and Modern Sociology, Stanford, Stanford University Press.

8.        Hegel, Georg W.F (1821), Các nguyên lý của triết học pháp quyền, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Hà Nội, Nxb. Tri thức, 2010.

9.        Lazar, Judith (1991), Sociologie de la communication de masse, Paris, Armand Colin.

10.    Luhmann, Niklas, Social Systems (1984), trans. John Bednarz, Jr. and Dirk Baecker, Stanford, California, Stanford University Press, 1995.

11.    Luhmann, Niklas (1993), Law as a Social System, trans. Klaus A. Ziegert, New York, Oxford University Press, 2004.

12.    Mác, C., và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, Tập 1, Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia.

13.    Mai Quỳnh Nam (1995), “Dư luận xã hội - Mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Xã hội học, Số 1 (49).

14.    Mai Quỳnh Nam (1996), “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội”, Tạp chí Xã hội học, Số 1 (53).

15.    Mai Quỳnh Nam (1996), “Mấy vấn đề về dư luận xã hội trong công cuộc đổi mới”, Tạp chí Xã hội học, Số 2 (54).

16.    Marshall, Gordon (Ed.) (1998), A Dictionary of Sociology, Oxford, Oxford University Press.

17.    Putnam, Robert (1995), “Bowling Alone : America‘s Declining Social Capital”, Journal of Democracy, Vol. 6 (No. 1), January.

18.    Simmel, Georg (1908), Secret et sociétés secrètes.

19.    Terré, F., (1994), “Le doute et le droit : synthèse”, in Le doute et le droit, Ouvr. coll., Paris, Dalloz, Coll. Philosophie et théorie générale du droit.

20.    Tiran, André (1997), “Confiance sociale et confiance primordiale en partant de Georg Simmel”, in Philippe Bernoux, Jean-Michel Servet (Dir.), La construction sociale de la confiance, Montchrestien, Coll. Finance et Société.

21.    Touret, Denis (2003), Introduction à la sociologie et à la philosophie du droit, 2e édition, Paris, Litec.

22.    Trần Hữu Quang và các đồng tác giả (2014), Lòng tin và vốn xã hội, Hà Nội, Nxb. Tri thức.

           



* PGS.TS.; Viện Khoa học Xó hội vựng Nam Bộ.

1 Patrick Champagne, “La presse, la télévision et l'opinion publique”, bài thuyết trình tại Grenoble, Pháp, vào ngày 16/10/1996.

2 Patrick Champagne, Sđd.

3 Mai Quỳnh Nam (1995), “Dư luận xã hội - Mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Xã hội học, Số 1 (49), Tr. 4.

4 Mai Quỳnh Nam, Sđd , Tr. 4 - 5.

5 Mai Quỳnh Nam, Sđd , Tr. 5.

6 Mai Quỳnh Nam (1996), “Mấy vấn đề về dư luận xã hội trong công cuộc đổi mới”, Tạp chí Xã hội học, số 2 (54), Tr. 11 - 12.

7 Mai Quỳnh Nam (1995), Sđd, Tạp chí Xã hội học, Số 1 (49), Tr. 3 - 8.

8 Mai Quỳnh Nam, Sđd, Tr. 3.

9 Mai Quỳnh Nam, Sđd, Tr. 7.

10 Mai Quỳnh Nam (1996), “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội”, Tạp chí Xã hội học, Số 1 (53), Tr. 3.

11 Trích lại theo Judith Lazar (1991), Sociologie de la communication de masse, Paris, Armand Colin, Tr. 151 - 152.

12 Về điểm này, có thể xem thêm Mai Quỳnh Nam (1996), Sđd, Tr. 13.

13 James Coleman (1990), Foundations of Social Theory, Cambridge (Massachusetts), Harvard University Press, dẫn lại theo Robert Putnam (1995), “Bowling Alone: America‘s Declining Social Capital”, Journal of Democracy, Vol. 6 (No. 1), January, Pp. 67.

14 “Trust, it might be said, is a device for stabilizing interaction. To be able to trust another person is to be able to rely upon that person to produce a range of anticipated responses” (Anthony Giddens, Social Theory and Modern Sociology, Stanford, Stanford University Press, 1996, Pp. 136).

15 Xem André Akoun, Pierre Ansart (dir.) (1999), Dictionnaire de sociologie, Paris, Le Robert, Seuil, Pp. 101.

16 Xem thêm bài của Trần Hữu Quang (2002), “Lòng tin trong quản lý”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tr. 36 - 37.

17 Gordon Marshall (Ed.) (1998), A Dictionary of Sociology, Oxford, Oxford University Press, Pp. 674.

18 Émile Durkheim (1893), De la division du travail social, “Tout n’est pas contractuel dans le contrat”.

19 Lâu nay, nhiều người thường lý giải nguyên nhân của tình trạng vượt đèn đỏ, chạy ngược chiều,… ở Tp. Hồ Chí Minh là do ý thức tự giác của người dân còn kém. Nói như vậy chỉ đúng ở phần ngọn: nguyên nhân chính của tình trạng này nằm nơi bản thân định chế giao thông (bộ máy cảnh sát giao thông, tính nghiêm minh của các biện pháp xử phạt,…). Người ta chỉ có thể giải thích một hiện tượng xã hội này bằng những hiện tượng xã hội khác, chứ không thể quy kết cho ý thức cá nhân. Tuyên truyền, giáo dục về luật giao thông dĩ nhiên là điều cần thiết và phải làm, nhưng hoàn toàn không đủ để tái lập trật tự giao thông. Vấn đề then chốt là cải tổ bộ máy quản lý giao thông, và thiết lập lại trật tự giao thông bằng các biện pháp xử phạt cứng rắn. Tập quán và ý thức chấp hành luật giao thông chỉ có thể hình thành trên cơ sở của một định chế giao thông vững mạnh và nghiêm minh, chứ không phải trên cơ sở của những đợt tuyên truyền, giáo dục. Ngay như ở Mỹ, nơi thường được coi là người dân có ý thức tự giác kỷ luật cao, trên một số xa lộ, cảnh sát thỉnh thoảng vẫn phải đặt những hình nộm cảnh sát bằng gỗ để nhắc nhở và răn đe những tài xế nào có ý định chạy quá tốc độ chẳng hạn.

20 Olivier Galland (2002), “Les dimensions de la confiance”, Futuribles, No. 277, juillet-août, Pp. 20.

21 Nguyên văn: “Toutes les relations entre les hommes reposent cela va de soi, sur le fait qu'ils savent des choses les uns sur les autres” (Georg Simmel, Secret et sociétés secrètes [1908], Strasbourg, Circé, 1991, Pp. 7, dẫn lại theo André Tiran, “Confiance sociale et confiance primordiale en partant de Georg Simmel”, in Philippe Bernoux, Jean-Michel Servet (Dir.), La construction sociale de la confiance, Montchrestien, Coll. Finance et Société, 1997).

22Georg Simmel, Sđd, Pp. 22.

23Georg Simmel, Sđd , Pp. 16.

24Georg Simmel, “Nous fondons nos décisions les plus importantes sur un système complexe de représentations dont la plupart suppose la certitude de ne pas être trompés”, Pp. 16.

25 Xem F. Terré (1994), “Le doute et le droit : synthèse”, in Le doute et le droit, Ouvr. coll., Dalloz, Pp. 7.

26 Niklas Luhmann (1995), Social Systems (1984), trans. John Bednarz, Jr. and Dirk Baecker, Stanford, California, Stanford University Press, Pp. 128 - 129.

27“One can afford a higher degree of uncertain confidence or even of mistrust as long as one has confidence in law” (Niklas Luhmann, Law as a Social System (1993), trans. Klaus A. Ziegert, New York, Oxford University Press, 2004, Pp. 148).

28 Georg W.F. Hegel, Các nguyên lý của triết học pháp quyền (1821), Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Hà Nội, Nxb. Tri thức, 2010, Tr. 317, Phần giảng thêm, Tr. 803. Vai trò quan trọng của tính chính đáng còn được Denis Touret nhấn mạnh như sau: “Xét cho cùng, chính niềm tin vào tính chính đáng của quyền lực mới là nguyên nhân đầu tiên của hiện tượng tuân thủ” (“En définitive, c'est la croyance en la légitimité du pouvoir qui serait la cause première du phénomène obéissance”, Denis Touret, Introduction à la sociologie et à la philosophie du droit, 2e édition, Paris, Litec, 2003, Pp. 88).

29 A. Akoun, P. Ansart (Dir.), Sđd, Tr. 91.

30 Georg W.F. Hegel, Sđd, Pp. 804.

31 Georg W.F. Hegel, Sđd, Pp. 804.

32 Georg W.F. Hegel, Sđd, Tr. 805 (những chỗ nhấn mạnh là do Hegel).

33 C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, Tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr. 102 - 105 (những chỗ nhấn mạnh là do C.Mác).

34 Trích lại theo Mai Quỳnh Nam (1996), Sđd, Tr. 4.

 

Trần Hữu Quang