Một số đặc điểm tính cách con người vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

16/03/2020

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH CON NGƯỜI

VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ1

                                                                           TRƯƠNG MINH DỤC*

 

Khi nói về bản chất con người, trong tác phẩm Luận cương về Phoiơ bắc, C. Mác đã viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa mối quan hệ xã hội”2. Luận đề trên của Mác cho thấy rằng, yếu tố hình thành bản chất con người là nhờ mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, để hiểu bản chất con người phải đặt con người trong hiện thực, trong những điều kiện về địa lý, môi trường, xã hội, lịch sử,… nghĩa là tất cả những điều kiện, hoàn cảnh mà con người đang thực hiện hoạt động sống, đang tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Hơn nữa, hoạt động xã hội của con người diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực đáp ứng nhu cầu nào đó của con người và hoạt động của con người luôn nằm trong mối quan hệ tác động biện chứng lẫn nhau. Do đó, bản chất của con người được hình thành phải là “tổng hòa” chứ không phải “tổng cộng” từ các mối quan hệ ấy. Hơn nữa, các mối quan hệ ở đây không chỉ là mối quan hệ xã hội hiện có mà còn bao gồm cả các mối quan hệ trong quá khứ mà con người hiện thực đã tiếp thu.

Quan điểm của C. Mác về bản chất con người có ý nghĩa phương pháp luận khi tiếp cận nghiên cứu về con người hiện thực nói chung, cũng như con người ở một quốc gia, một vùng cụ thể nói riêng.

Vì vậy, nghiên cứu để tìm cơ sở khoa học cho việc phát triển con người Việt Nam nói chung và con người vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nói riêng phù hợp với điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển con người, như điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội (điểm xuất phát về lịch sử, văn hóa), trình độ lực lượng sản xuất xã hội, chế độ chính trị,... Nghiên cứu những đặc tính con người Việt Nam giúp cho việc đề ra chính sách đối với quá trình phát triển con người ở nước ta nói chung và đối với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nói riêng.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận gồm 8 tỉnh, thành phố, có diện tích 44.376,8 km2 , bằng 13,4% diện tích cả nước, dân số đến năm 2012 là 8.984.000 người, bằng 10,1% dân số cả nước3.

Nằm ở giữa đất nước, các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng trong quá trình phát triển của đất nước. Vùng này có đầu mối giao thông thuận lợi về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cửa ngõ chính ra Biển Đông của các tỉnh Tây Nguyên.

Phía Tây là vùng núi hiểm trở, giáp với các tỉnh Tây Nguyên và xa hơn là vùng biên giới Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia, có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Phía Đông giáp với Biển Đông hơn 1.000 km, hệ thống đảo có vai trò lớn về kinh tế và quốc phòng như quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và hệ thống đảo như Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), vừa có ý nghĩa về phát triển kinh tế, vừa có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển đảo quốc gia.

Về tự nhiên, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng có cấu trúc địa chất phức tạp, khí hậu khắc nghiệt, nhưng có tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội. Về kinh tế có thể phát triển một nền nông nghiệp toàn diện cả nông, lâm, ngư nghiệp, nhất là các ngành kinh tế, dịch vụ biển và du lịch.

Vùng biển Nam Trung Bộ có những ngư trường tốt nên nghề cá phát triển mạnh. Các đảo đang được khai thác và phát triển như những trạm nổi lớn, làm nơi xuất phát, trú đậu cũng như căn cứ dịch vụ hậu cần lớn của nghề cá. Ngoài các đảo, trong vùng biển miền Trung còn có những vùng rạn đá với diện tích khoảng hàng chục km2.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ còn có nhiều đầm, phá, vũng, vịnh có vai trò quan trọng trong phát triển nghề nuôi trồng hải sản, đặc sản xuất khẩu với tổng diện tích trên 160.000 ha, trong đó, Phú Yên và Khánh Hòa là hai tỉnh có diện tích lớn nhất với hơn 57.000 ha, chiếm 58% diện tích toàn vùng, Quảng Nam là 20.000 ha, và Bình Định là 4.183 ha.

Về điều kiện khí hậu, thủy văn, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là nơi có điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Biển miền Trung còn chịu ảnh hưởng của hai dòng hải lưu nóng và lạnh theo chế độ gió mùa. Điều kiện tự nhiên, khí hậu của vùng biển miền Trung phù hợp cho sự phát triển ngành khai thác cá nổi. Việc khai thác cá đáy bị hạn chế, chỉ có vùng biển Ninh Thuận, Bình Thuận, nghề khai thác cá đáy có điều kiện phát triển.

Như vậy, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có tầm quan trọng địa chiến lược về an ninh, quốc phòng. Đây là vùng được thiên nhiên ưu đãi, nhưng cũng rất khắc nghiệt. Trong quá trình sinh tồn, người dân vùng này cần cù, sáng tạo trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, cùng với quá trình phát triển là quá trình giữ nước, vì vậy đã hun đúc nên truyền thống yêu nước và cách mạng, kiên cường, dũng cảm trong kháng chiến chống ngoại xâm.

Từ thế kỷ XV, khi đặt chân vào vùng đất Nam Trung Bộ, người Việt ngay từ đầu đã khai thác và phát huy hiệu quả những lợi thế của vùng đất này, đồng thời từng bước thích nghi với hoàn cảnh để tồn tại và phát triển.

Cho đến thế kỷ XVI, vùng Thuận - Quảng nói chung kinh tế còn lạc hậu, đất hoang còn nhiều, xóm làng, cư dân còn thưa thớt. Những lớp nông dân di cư đã khai phá đất hoang, lập xóm làng mới bên cạnh đồn điền của Nhà nước phong kiến. Khi vào cát cứ vùng này, nhà Nguyễn đã lợi dụng những thành quả lao động của người nông dân để xây dựng cơ sở và tăng cường thế lực. Các Chúa Nguyễn tiếp tục đẩy mạnh công tác khai hoang bằng chính sách khẩn hoang, lập làng. Nông dân di cư và tù binh bắt được trong cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn là lực lượng lao động chủ yếu để thực hiện chính sách này. Ruộng đất khai khẩn được là ruộng đất của làng, ấp mới thành lập, đặt dưới quyền sở hữu tối cao của Chúa Nguyễn. Các Chúa Nguyễn lợi dụng một cách khôn khéo công cuộc khẩn hoang của nhân dân để củng cố, mở rộng cơ sở cát cứ của mình. Những công trình khẩn hoang đã làm biến đổi bộ mặt kinh tế vùng Thuận - Quảng. Từ một vùng đất hoang vắng, lạc hậu, Thuận - Quảng đã nhanh chóng trở thành một vùng kinh tế phát triển.

Với những vùng đất khẩn hoang rộng lớn của nhân dân, kinh tế nông nghiệp Đàng Trong phát triển nhanh chóng rõ rệt, đồng hoang phải thu hẹp dần trước sức lao động bền bỉ của con người đã biến thành đồng ruộng và xóm làng. Là vùng đồng bằng hẹp và nằm rải rác ven biển theo lưu vực các dòng sông, để chống hạn hán, lũ lụt, nhân dân ở đây đã sớm đắp đê, đào kênh dẫn nước ở đồng bằng và làm ruộng bậc thang ở đồi núi. Nhận xét về công cuộc khai thác vùng đất mới của nhân dân vùng này, trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú đã viết: “Đất đai mở mang, phong thổ nhân vật ngày càng phồn thịnh, đồng ruộng rộng rãi, các thứ lúa xanh tốt, về công nghệ rất tinh xảo: dệt ra những thứ lụa vải lĩnh, lá cải hoa, nhuộm màu khéo và đẹp không kém gì hàng Quảng Đông. Các núi sản xuất nhiều vàng tốt. Vật sản thì có nhiều như voi rừng, còn nhà dân thì chăn nuôi lợi nhất là trâu, ngựa”4.

Qua đoạn miêu tả trên của Phan Huy Chú, cho thấy vùng Duyên hải miền Trung là vùng giàu tiềm năng để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, phong phú. Khai thác tiềm năng đó, ông cha ta đã tạo lập một nền nông nghiệp phát triển đa dạng cả nông, lâm, ngư nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi bước đầu đạt tới một trình độ nhất định của sản xuất hàng hóa. Một thương khách người Quảng Đông đã nhận xét rằng: thuyền ở Sơn Nam về chỉ mua được một món là củ nâu, thuyền ở Thuận Hóa về chỉ mua được một món là hạt tiêu, còn thuyền từ Quảng Nam về thì trăm hóa vật không có món gì là không có. Các phiên bang không nước nào sánh kịp. Các hóa vật sản xuất ở phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn,... do đường thủy bộ, đi thuyền, đi ngựa đều tập trung ở phố Hội An, cho nên rất đông khách phương Bắc đến đó để mua”5. Còn Dumont, một người Pháp trong bản phúc trình gửi Chính phủ Pháp đã phân tích cơ sở để mở một thương điếm ở Cù Lao Chàm như sau: các thương thuyền của Pháp nếu qua đây (Đàng Trong) thì trước hết mua các loại sản phẩm như đường, ngà voi, gỗ lim, vàng ở Hội An rồi chở qua Quảng Đông6. Nói về sự giàu có cũng như sự phong phú về tài nguyên của dinh Quảng Nam thời đó, P.B. Vuchet đã nhận xét: có một số hàng hóa mà nhà vua độc chiếm như gỗ mun, tổ yến, hạt tiêu, hổ phách và nhiều thứ ngọc tuy cũng lóng lánh không kém kim cương, ngọc bích nhưng có thể không bền, không cứng cho bằng. Hàng năm, người ngoại quốc mua các thứ này với một số bạc thỏi rất lớn được mang tới từ Nhật Bản, Trung Quốc, đảo A Chin, Xiêm La và Manille7. Qua những tài liệu cổ của Việt Nam cũng như người nước ngoài, có thể thấy rằng: khu vực Thuận - Quảng có một nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng và đạt đến một nền nông nghiệp tương đối phát triển. Nền nông nghiệp đó bước đầu đã gắn với thị trường và hướng tới xuất khẩu.

Do chính sách mở cửa buôn bán với nước ngoài của Chúa Nguyễn, các ngành tiểu thủ công nghiệp vùng Thuận Quảng cũng có điều kiện phát triển, hình thành những làng nghề truyền thống. Nhân dân nhờ có tiếp xúc với người nước ngoài, học hỏi được nhiều nghề mới. Đặc biệt nhờ ngoại thương phát triển, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống tiếp xúc với thị trường nên cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Chẳng hạn, nghề dệt lụa gấm đoạn, trườm sa, lãnh, nghề nhuộm, đồ sành, làm giấy, đóng ghe, thuyền hay ghe bầu,... Các phường dệt hàng tơ nổi tiếng ra đời và ảnh hưởng đến các vùng khác. Nhân dân Quảng Nam nhiều người đã được truyền nghề dệt các thứ hàng quý nói trên để đáp ứng yêu cầu của các thương gia nước ngoài. Người nông dân vốn sẵn óc thông minh, có kỹ xảo, lại có đức tính cần cù, chịu khó, tìm tòi, học hỏi nên dệt được những sản phẩm cao cấp nổi tiếng hồi bấy giờ như: the, đoạn, lụa là, hoa hòe tinh xảo chẳng khác gì hàng Quảng Đông, và từ đời này qua đời khác truyền nghề cho con cháu ngày càng thêm mở rộng.

Như vậy, nhờ chính sách mở cửa, phát triển buôn bán với nước ngoài lúc bấy giờ, trong nông thôn miền Trung có sự chuyển biến quan trọng, sản xuất gắn với thị trường, gắn với xuất khẩu. Đây chính là nguyên nhân quan trọng giúp cho kinh tế Đàng Trong phát triển phồn thịnh. Nhiều trung tâm buôn bán, nhiều làng nghề truyền thống được ra đời và phát triển trong thời kỳ này. Do tiểu thủ công nghiệp phát triển, công nghệ bước đầu cũng phát triển, vùng Quảng Nam kỹ nghệ không kém gì miền Bắc. Người Châu Âu đến Đàng Trong lúc bấy giờ đều nhìn nhận: nhân dân địa phương rất giỏi về công nghệ, thông minh, sáng dạ, khéo bắt chước và ngay với dụng cụ bình thường họ vẫn tạo ra sản phẩm y hệt như người phương Tây, kể cả chuyện đóng tàu, đúc súng. Sự phát triển của thủ công nghiệp đã làm xuất hiện nhiều làng và phường thủ công có tiếng và tồn tại đến bây giờ như: nghề đúc, nghề dệt, nghề gấm, nghề nấu đường, rèn sắt,...).

Chính sách của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong là mở rộng quan hệ buôn bán với nước ngoài, nhờ thương mại phát triển, kích thích nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển, thị trường nông thôn bước đầu được hình thành. Hội An trở thành một trung tâm buôn bán rất phồn thịnh lúc bấy giờ. Hàng năm, người dân trong vùng mang tới hội chợ Hội An các thứ sản vật mà thương thuyền và viễn xứ thường rất thích như: yến sào, sừng tê giác, hươu, vây cá, tôm khô, rong bể, ốc hương, đồi mồi, ngà voi, trân châu, tơ lụa, trầm hương, đường tán, đường cát, đường phèn, xạ hương, quế, tiêu, gạo, đậu khấu, tê mộc, sa nhân.

Thương thuyền Trung Quốc mang tới các loại sa đoan, gấm đoan năm màu, các loại vải, thuốc bắc, giấy vàng bạc, dầu thơm các loại, kim tuyến đủ màu, thuốc nhuộm, y phục, giày dép, nhung đa la, kính pha lê, quạt giấy, bút mực, kim nút, đèn lồng, bàn ghế, đồ đồng, đồ thiếc, đồ gốm, các loại trúc cây khô hoặc ép. Việc mua bán ở hội chợ kéo dài năm, sáu tháng trời. Quan hệ hàng hóa phát triển có tác động mở rộng thị trường địa phương, tạo tiền đề cho sự hình thành thị trường cả nước. Hệ thống chợ nông thôn được hình thành. Một số thành thị, thương cảng phát triển. Hội An là thương cảng lớn nhất, có quan hệ rộng rãi với nhiều vùng, với thị trường quốc tế. Theo Lê Quý Đôn, ở Hội An hàng hóa rất nhiều, dù hàng trăm tàu lớn chuyên chở cũng không hết được. Quan hệ hàng hóa thương mại phát triển đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở miền Trung phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa đến lượt nó đã tạo tiền đề cần thiết dẫn đến sự hình thành sức sản xuất và quan hệ sản xuất mới. Tiếc rằng những mầm mống của nền sản xuất hàng hóa không được duy trì và phát triển mà bị thui chột do chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn từ thế kỷ thứ XIX. Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế miền Trung nói riêng phát triển chậm và vẫn còn trì trệ.

Người nông dân miền Trung vốn là người nông dân miền Bắc phiêu bạt vào khẩn hoang vùng Thuận - Quảng, hay vào tận đồng bằng sông Cửu Long ở cực Nam của đất nước. Dù ở bất kỳ đâu, họ vẫn tập hợp nhau lại trong những xóm làng với quan hệ đoàn kết, tương trợ thân thiết, với phong cách sống dân tộc đậm đà,... Vì muốn thoát khỏi chế độ áp bức, bóc lột, người nông dân di cư đến những miền xa xôi để làm ăn, để tìm chân trời tự do trên vùng đất mới. Họ tập trung lại theo tổ chức công xã cố hữu để giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội đầy chông gai, thử thách. Vì vậy, trong cuộc sống, họ gìn giữ được truyền thống công xã mạnh mẽ, với quan hệ đoàn kết, gắn bó như anh em trong một nhà, tinh thần tương ái rất cao. Đây chính là điểm khác nhau giữa công xã nông thôn miền Bắc và công xã nông thôn miền Trung. Nếu ở công xã miền Bắc, yếu tố dòng họ trong công xã chiếm vị trí chủ đạo, thì ở miền Trung yếu tố đó đã nhạt dần. Làng xóm, tình làng nghĩa xóm chiếm vị trí chủ đạo trong công xã nông thôn miền Trung. Giáo sĩ người Ý là Chritoforo Bori đến Đàng Trong hồi thế kỷ XVII có nhận xét: “Dân ở đây sống hòa thuận với nhau, rất thẳng thắn, thật thà, y như được nuôi sống và lớn lên cùng một nhà, mặc dù họ chưa từng thấy và biết nhau bao giờ”8.

Điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt ở vùng này đã tạo nên tính cách chung của người dân có nhiều ưu điểm nổi bật, như: đức tính cần cù lao động, chịu đựng gian khổ, tìm tòi, học hỏi, tiết kiệm và có tinh thần đoàn kết nội bộ. Lao động nông nghiệp cũng như nghề biển đòi hỏi tính tập thể cao, mọi thành viên phải đoàn kết, tương thân tương trợ lẫn nhau.

Với ý chí, tình cảm sâu sắc và trên cơ sở vững chắc của nền văn hóa dân tộc, lấy vốn văn hóa dân gian cổ truyền làm nền tảng, người dân miền Trung chẳng những bảo tồn và phát huy được những truyền thống của dân tộc mà còn qua giao lưu văn hóa lúc bấy giờ được mở rộng với phương Bắc, phương Nam và cả phương Tây, đã tiếp thu thêm những nhân tố bên ngoài, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc. Quá trình chinh phục tự nhiên là quá trình hình thành tính cách người nông dân miền Trung: cần cù, nhẫn nại, thông minh, sáng tạo, chất phác. Vì vùng đất miền Trung là vùng trù phú, với những cánh đồng phì nhiêu, màu mỡ, núi, rừng, sông, biển có nhiều của ngon vật lạ, quý hiếm, là nguồn tài nguyên phong phú dồi dào, nhưng cũng vô cùng dữ dằn, khắc nghiệt, luôn thách đố với khả năng, tài sức chinh phục thiên nhiên của con người, thách đố đức tính cần cù, vượt khó. Người miền Trung được đào luyện trong môi trường khắc nghiệt ấy đến hàng trăm năm nên tích lũy được những kinh nghiệm phong phú, đầu óc sáng tạo, có thể đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống, là nguồn lực vô tận để phát triển.

Ngoài cuộc đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, người dân miền Trung phải tiến hành cuộc đấu tranh với sự áp bức, bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến và thực dân xâm lược. Cuộc đấu tranh đó nhằm bảo vệ những thành quả lao động của mình để có cuộc sống tốt hơn và bảo vệ quê hương, giang sơn gấm vóc mà cha ông bao đời khai phá. Khi có giặc ngoại xâm đụng đến Tổ quốc, quê hương, người dân miền Trung đứng lên chống trả một cách quyết liệt dù đau thương, mất mát rất lớn. Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, người dân miền Trung phải gánh chịu những hậu quả nặng nề nhất vì đây là nơi chiến tranh diễn ra ác liệt nhất. Cuộc vật lộn qua bao thử thách chiến tranh đã rèn đúc tinh thần kiên cường, bất khuất của người dân.

Con người miền Trung cần cù, siêng năng, chất phác, nhưng nhạy bén và sáng tạo, có tay nghề truyền thống. Đặc điểm con người trong lịch sử: cần cù, thông minh và bất khuất, kiên cường. Khai thác những khả năng của họ là khai thác những kinh nghiệm đã được tích lũy từ thực tiễn qua hàng trăm năm cha truyền con nối, ví như nghề mộc, nghề xây dựng,... Trong điều kiện hiện nay, để phát huy nhân tố con người, cần phải tạo những năng lực mới cho họ đó là phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao trình độ mọi mặt cho người lao động và con cái họ, để họ có thể tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại cũng như tiếp thu có chọn lọc những tinh túy của cha ông.

Với hơn 1.000 km bờ biển nên vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có tiềm năng về phát triển kinh tế biển và gắn bó với biển trong quá trình phát triển. Do vị trí địa kinh tế và địa chính trị quan trọng nên từ lâu Biển Đông (trong đó có vùng biển Việt Nam) đã là nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông, mà còn của một số cường quốc hàng hải khác trên thế giới. Những tranh chấp vẫn diễn ra hiện nay nói lên tầm quan trọng chiến lược của vùng biển này. Đây là yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến quá trình hình thành và quy định tính cách con người miền Trung trong quá trình lịch sử và cả hiện tại. 

Trong quá trình phát triển, một mặt cha ông ta khai thác tiềm năng kinh tế vùng đất duyên hải miền Trung bằng các nghề trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng. Mặt khác, một bộ phận người dân khai thác tiềm năng biển để sinh tồn. Nhiều đô thị ven biển, nhiều làng chài được hình thành để khai thác tiềm năng kinh tế của biển. Để khai thác kinh tế biển, người dân chủ yếu làm nghề cá. Do điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt ở miền Trung đã tạo nên tính cách chung của ngư dân có nhiều ưu điểm nổi bật như: đức tính cần cù lao động, chịu đựng gian khổ, tìm tòi, học hỏi, tiết kiệm. Vì thế, người lao động đánh bắt có kinh nghiệm và trình độ nghề nghiệp đi biển khá cao, tạo nên một truyền thống và sự tinh thông nghề nghiệp.

     Mặt khác, do nguồn lợi thủy sản ở các tỉnh miền Trung không còn phong phú nên ngư dân vùng này đã phải tần tảo ra Bắc vào Nam để tìm ngư trường khai thác. Lực lượng lao động đánh cá toàn vùng chiếm 2/3 lao động đánh cá trong cả nước, gần 2/3 chiều dài bờ biển nhưng chỉ mang lại 40% sản lượng khai thác cả nước.

Do đặc điểm của lao động nghề cá, phân công lao động của cư dân ven biển miền Trung trước hết là theo giới tính: đàn ông khỏe mạnh thì làm nghề đánh bắt, phụ nữ làm nghề dịch vụ, chế biến hải sản.

Người lao động nghề biển ở các tỉnh miền Trung đã đóng góp sản phẩm của mình để tạo ra giá trị lớn hơn qua chế biến, hình thành những sản phẩm có tiếng như nước mắm (chiếm 1/2 lượng nước mắm cả nước), tôm, mực, cá khô (2/3 sản lượng hải sản khô của cả nước) cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.

Do đặc điểm nghề nghiệp, người dân vùng biển có trình độ văn hóa thấp, phần lớn lực lượng lao động thủy sản chưa qua đào tạo. Vì các khu dân cư nghề cá đều ở xa đô thị, thị trấn, điều kiện giao lưu về văn hóa, điều kiện học hành còn nhiều khó khăn, vì vậy trình độ văn hóa, dân trí của cư dân ngư nghiệp bị hạn chế, số học sinh đến trường chiếm tỉ lệ thấp.

Hầu hết lao động tham gia khai thác trên các tàu đánh cá có truyền nghề theo “cha truyền con nối”, người lao động tham gia đánh cá trên tàu từ lúc nhỏ, đa số chưa học hết cấp 2; trình độ tay nghề theo kiểu kinh nghiệm; nhận thức về luật hàng hải, về an toàn trên biển của họ còn thấp. Phần lớn họ chưa được đào tạo một lớp học nào về nghề nghiệp, chỉ tham gia bằng kinh nghiệm lâu năm đi biển của mình. Việc áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến gặp nhiều khó khăn, để có thể làm chủ công nghệ tiên tiến thì cần phải có thời gian rất lâu.

Nghề biển là một nghề cực kỳ nguy hiểm, người lao động trên biển, một mặt, phải đối phó với thiên nhiên, sóng to, gió lớn giữa mênh mông đại dương, “trên trời, dưới nước” nên ranh giới giữa sống - chết rất mong manh; mặt khác, lại phải đối phó với nạn “hải tặc lộng hành”. Điều đó rèn đúc cho người dân biển ý chí dũng cảm, kiên cường, mưu trí và linh hoạt trong lao động. Mặt khác, lao động nghề biển yêu cầu tính tập thể cao, đòi hỏi người lao động có tinh thần đoàn kết nội bộ, tương thân, tương trợ lẫn nhau,...

Ở vị trí trung tâm của đất nước, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là đầu mối giao thông thuận lợi về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Đây là vùng có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển: bờ biển dài 1.000 km, là cửa ngõ chính ra Biển Đông, có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội nhất là các ngành kinh tế, dịch vụ biển và du lịch; có các huyện đảo Lý Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa và Phú Quý vừa có ý nghĩa về phát triển kinh tế, vừa có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển đảo quốc gia.

Như vây, yêu cầu về an ninh, quốc phòng vùng biển đảo cần được tính đến trong chiến lược phát triển con người vùng Duyên hải miền Trung. Điều đó đòi hỏi cần đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động, ổn định và nâng cao đời sống cho nhân dân. Cần khai thác tiềm năng, thế mạnh kinh tế biển vùng Duển hải miền Trung theo hướng phát triển vùng ven biển nhằm tạo động lực lan tỏa hỗ trợ vùng trung du - miền núi, đồng thời tạo cơ sở cho phát triển một nền kinh tế biển vững chắc và lâu dài mang tầm chiến lược.

Đây chính là tiền đề quan trọng, quyết định trong chiến lược kinh tế biển, đảo gắn với một nền quốc phòng và an ninh trên biển phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển. Vùng ven biển là “bàn đạp” tiến ra biển, là hậu phương hỗ trợ các hoạt động trên biển thông qua các trung tâm kinh tế hải đảo. Cho nên, dọc ven biển phải kiến tạo các cực phát triển mạnh (trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội,... tức là các đô thị lớn ven biển) có bán kính ảnh hưởng rộng ra biển, có khả năng đối trọng với các cực phát triển lớn trong khu vực biển Đông; các hành lang kinh tế ven biển, lôi kéo không chỉ nội vùng và lân cận, mà còn vào sâu nội địa và lan ra xa ngoài biển.

Trong quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, khai phá vùng đất này và đấu tranh chống ngoại xâm, đã hình thành tính cách con người ở đây: cần cù, chịu khó trong lao động, hiền hòa, cởi mở trong giao tiếp, kiên cường, bất khuất trước kẻ thù. Họ đã xây dựng nên truyền thống yêu nước và cách mạng, kiên cường, dũng cảm trong kháng chiến chống ngoại xâm, sáng tạo trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội. Những đặc điểm này cần được phát huy trong chiến lược xây dựng và phát triển con người hiện nay.

 

Tài liệu tham khảo

 

1.        C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr. 3.

2.        Phan Du (1974), Quảng Nam qua các thời đại, Quyển thượng Cổ học trùng thư, Đà Nẵng.

3.        Trương Minh Dục (2010), Miền Trung, Tây Nguyên trong quá trình đổi mới, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội.

4.        Trương Minh Dục (2013), Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.

5.        Đảng Công sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

6.        Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư (khóa X), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

7.        Lịch sử Việt Nam, tập 1 (1991), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

8.        Phạm Văn Linh (Chủ biên) (2010), Chiến lược biển Việt Nam - Từ quan điểm đến thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

9.        Quốc hội (2012), Luật biển Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

10.    Đặng Đình Quý (Chủ biên) (2011), Biển Đông: hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

11.    “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 12/10/2011.

12.    Tổng Cục Thống kê (2013), Niên giám thống kê năm 2012, Nxb. Thống kê, Mục “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2012 phân theo địa phương”, Tr. 62.

13.    Trần Công Trục (Chủ biên) (2012), Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.

14.    Nguyễn Ngọc Trường (2014), Về vấn đề Biển Đông, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

15.    “Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc”, Báo Nhân Dân, Chủ nhật, ngày 16/10/2011.

16.    Báo Thanh niên, ngày 21/7, 28/9 và 29 - 30/11/2011.

17.    Các báo điện tử: Vietnam Net, thứ  Ba, ngày 01/9/2009; Dân trí, Thứ Năm, ngày 18/12/2014.

18.    Báo Lao động, thứ Hai, ngày 2/3/2015.

19.    Báo Nhân dân cuối tuần, ngày 1/3/2015.

 



 

* PGS. TS.; Học viện Chớnh trị khu vực III.

1 Nghiờn cứu này phản ỏnh một phần kết quả Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Phỏt triển con người vựng Duyờn hải Nam Trung Bộ hiện nay”, Mó số KX.03.20/11-15.

2 C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, T.3, Tr. 11.

3 Tổng hợp theo: Tổng cục Thống kê (2013), Niên giám thống kê năm 2012, Nxb. Thống kê, Mục “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2012 phân theo địa phương”, Tr. 62.

4 Phan Huy Chú (1994), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, Tr. 164

5 Lê Quý Đôn (1977), Toàn tập: Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

6 Phan Du (1974), Quảng Nam qua các thời đại, Quyển thượng Cổ học trùng thư, Đà Nẵng, Tr. 67.

7 Phan Du, Sđd, Tr. 68.

8 Lịch sử Việt Nam, Tập 1,  Nxb. Khoa học Xã hội,  Hà Nội, 1991, Tr. 305.

 

Trương Minh Dục