Sự tham gia vào các nhóm và tổ chức tự nguyện như một hình thức của liên kết dân sự: so sánh nông thôn với đô thị

16/03/2020

SỰ THAM GIA VÀO CÁC NHÓM VÀ TỔ CHỨC TỰ NGUYỆN NHƯ MỘT HÌNH THỨC CỦA LIÊN KẾT DÂN SỰ: SO SÁNH NÔNG THÔN VỚI ĐÔ THỊ1

NGUYỄN QUÝ THANH*

 

Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, khái niệm “sự tham gia xã hội” đã trở thành một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực đời sống xã hội từ quản lý xây dựng chính sách đến phát triển cộng đồng. Thông qua phân tích nội dung 43 định nghĩa khác nhau về sự tham gia, một nhóm tác giả (Levasseur M. et al., 2010) đã chỉ ra nội hàm chính của khái niệm “sự tham gia”, theo đó, nó có thể gồm các nội dung như: i) thực hiện một hoạt động để kết nối với những người khác; ii) cùng làm với những người khác; iii) tương tác với những người khác nhưng không thực hiện bất cứ hoạt động cụ thể nào; iv) thực hiện một hoạt động cụ thể với những người khác; v) giúp đỡ người khác; và vi) đóng góp vào xã hội.

Như vậy, sự tham gia xã hội chính là quá trình qua đó người dân được lôi cuốn vào các vấn đề và các hoạt động xã hội mà có ảnh hưởng đến các mặt đời sống của họ. Sự tham gia xã hội này sẽ tổng hợp sức mạnh của các cá nhân thành sức mạnh cộng đồng, nguồn lực tập thể, nhờ đó thúc đẩy sự thay đổi xã hội. Sự tham gia xã hội được các cá nhân thực hiện với tư cách là thành viên của xã hội nói chung và/hoặc thành viên của một nhóm và tổ chức xã hội cụ thể, nhất là các nhóm và tổ chức tự nguyện. Trên thực tế, rất nhiều phong trào và hoạt động xã hội mà cá nhân tham gia được dẫn dắt và thực hiện bởi chính các nhóm/tổ chức này. Vì vậy, khi các cá nhân tham gia vào các phong trào và hoạt động này, họ thực hiện nó thông qua nhóm/tổ chức (trực tiếp) hoặc thông qua nhóm/tổ chức (gián tiếp) với tư cách là thành viên.

Cho dù trực tiếp hay gián tiếp, sự tham gia của các cá nhân vào các nhóm/tổ chức tự nguyện đều góp phần tạo nên một đỉnh trong tam giác quan hệ: Nhà nước - Giới kinh doanh - Khu vực dân sự. Các nhóm/tổ chức tự nguyện có đặc trưng cơ bản là việc gia nhập nó là tự nguyện, cơ cấu quyền lực không quá chặt chẽ, lãnh đạo nhóm/tổ chức này khác với tổ chức quan liêu, không có nhiều quyền lực thực tế với các thành viên. Các nhóm/tổ chức này tự nguyện được thành lập vì mục đích công cộng hoặc vì lợi ích của chính các thành viên, nhưng đều là môi trường tạo ra các liên kết dân sự (civic engagement). Như vậy, liên kết dân sự thực chất cũng là hình thức tham gia xã hội, trong đó nhấn mạnh sự tham gia vào các nhóm và tổ chức tự nguyện như là một không gian dân sự cho các cá nhân. Sự tham gia có ý nghĩa (meaningful participation), thực chất, không mang tính hình thức vào các nhóm/tổ chức tự nguyện sẽ góp phần tạo ra sự cân bằng và hài hòa của tam giác quan hệ nói trên. Sự tham gia có ý nghĩa chỉ có được khi các thành viên hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình và thực thi chúng một cách chủ động.

Ở Việt Nam, từ khi bắt đầu quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, đời sống chính trị cũng có những thay đổi. Vai trò và tiếng nói của người dân đối với việc hoạch định chính sách và hoạt động của cơ quan công quyền ngày càng được chú ý hơn. Khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách. Trong bối cảnh đổi mới, các nhóm/tổ chức tự nguyện, đặc biệt là các nhóm/tổ chức tự nguyện phi chính thức tại các cộng đồng phát triển nhanh chóng về số lượng. Nhờ đó, người dân có thêm cơ hội thực thi các quyền của mình một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các nhóm/tổ chức mà họ là thành viên. Vai trò của các nhóm/tổ chức tự nguyện trong đời sống xã hội Việt Nam ngày càng rõ ràng. Tuy nhiên, nghiên cứu về các nhóm/tổ chức tự nguyện ở Việt Nam chưa nhiều. Đặc biệt, những vấn đề về đặc trưng của sự tham gia của người Việt Nam vào các nhóm/tổ chức này chưa được khảo cứu một cách đầy đủ. Chính vì vậy, bài viết là một cố gắng lấp đầy khoảng trắng này thông qua việc tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu cơ bản như: quy mô sự tham gia xã hội vào các nhóm/tổ chức tự nguyện của người Việt Nam thế nào? Các thành viên nhận được các lợi ích gì và mức độ thực hiện các hoạt động do nhóm/tổ chức thực hiện thế nào? Các đặc trưng văn hóa của các cộng đồng nông thôn và đô thị có tạo ra khác biệt trong các đặc điểm về sự tham gia của người dân ở hai khu vực này không?

1. Tổng quan nghiên cứu

1.1. Các nghiên cứu về quy mô tham gia xã hội

Các nghiên cứu về quy mô tham gia thường đưa ra số liệu về tỉ lệ dân số tham gia vào một nhóm/tổ chức tự nguyện, hoặc số lượng trung bình nhóm/tổ chức mà một người bình thường tham gia làm thành viên. Cách tính theo tỉ lệ có ưu điểm là biết được sự phổ biến của một nhóm/tổ chức trong xã hội. Nhưng mặt khác, nó lại có nhược điểm là không biết được sự tham gia đa nhóm (multiple participation) của một cá nhân thế nào. Mặt khác, các nhóm có mục đích hoạt động khác nhau, cho nên việc tính toán số lượng nhóm/tổ chức cá nhân tham gia sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn mức độ thâm nhập sâu của cá nhân vào quá trình tham gia xã hội và sự phát triển của không gian dân sự.   

Theo số liệu trong nghiên cứu của James E. Curtis, Edward G. Grabb và Douglas E. Baer (1992) cho 15 nước được khảo sát, tỉ lệ người dân tham gia vào các nhóm/tổ chức tự nguyện khá khác nhau giữa các quốc gia. Tỉ lệ người dân tham gia vào một hoặc nhiều hơn các nhóm/tổ chức tự nguyện tại các nước Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Ca-na-đa) và Bắc Âu (Thụy Điển, Na Uy) cao hơn hẳn so với các quốc gia khác ở Châu Âu. Trong các quốc gia được khảo sát như Pháp, Ý và Tây Ban Nha có tỉ lệ người tham gia các nhóm/tổ chức tự nguyện thấp nhất (tương ứng là 27,2%, 25,9% và 30,8%). Nếu tính theo số lượng nhóm/tổ chức mà một người Mỹ trung bình tham gia là thành viên thì con số này khoảng 1,75 (F.R. Baumgartner, J. L. Walker, 1988).

Ở Việt Nam, một trong những nghiên cứu đầu tiên chỉ ra số lượng các nhóm/tổ chức tự nguyện mà cá nhân tham gia làm thành viên được thực hiện trong khuôn khổ của Khảo sát giá trị thế giới tại Việt Nam, và được các tác giả Russell J. Dalton và Nhu-Ngoc T. Ong công bố (2002). Theo đó, người Việt Nam tham gia trung bình 2,33 nhóm, tổ chức tự nguyện khác nhau. Trong nghiên cứu này, các tác giả cũng chỉ ra rằng quy mô này của người Việt Nam cao hơn một chút so với một số quốc gia trong khu vực (so với 0,91 của Trung Quốc, 1,93 của Phi-lip-pin). Các tác giả cũng cho thấy, tỉ lệ người Việt Nam là thành viên của Hội phụ nữ chiếm tỉ lệ cao nhất, khoảng 28%. Tuy nhiên, theo chúng tôi, các tác giả tính tỉ lệ này trên toàn dân số chứ không tính riêng cho phụ nữ, cho nên tỉ lệ này thấp hơn thực tế nếu chỉ tính riêng cho nhóm phụ nữ. Tương tự như vậy, tỉ lệ người dân tham gia các tổ chức chính trị xã hội cũng khoảng 28%. Những tổ chức như Đoàn thanh niên, Hội thanh niên có tính chất đặc thù theo lứa tuổi, vì vậy, nếu điều chỉnh theo cơ cấu tuổi, tỉ lệ người tham gia sẽ cao hơn.

Nghiên cứu của Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn Quý Nghị và các đồng tác giả (2015) cho thấy ở nhóm thanh niên (dưới 35 tuổi), số nhóm trung bình mà một nam giới tham gia là 1,72 trong khi con số tương ứng của nữ là 1,55. Xu hướng tương tự cũng xảy ra ở nhóm tuổi trung niên (35 - 60 tuổi) khi số nhóm trung bình mà một nam giới tham gia nhiều hơn số nhóm trung bình mà nữ giới tham gia. Tuy nhiên, ở nhóm người cao tuổi (trên 60 tuổi), số nhóm trung bình mà nữ giới là thành viên là 2,12 trong khi con số này của nhóm nam là 1,84. Kết quả điều tra cũng cho thấy dường như nam giới có xu hướng tham gia nhiều hơn vào các nhóm/tổ chức phi chính thức, trong khi nữ giới tham gia nhiều hơn vào các nhóm/tổ chức chính thức.

1.2. Nghiên cứu về lợi ích của chủ thể trong tham gia xã hội

Một vấn đề đang được các nhà nghiên cứu quan tâm nhưng cũng có rất nhiều tranh luận, đó là mối liên hệ giữa sự tham gia xã hội và sự phát triển vốn xã hội của mỗi cá nhân. Pelling (1998) là một trong những người cố gắng giải thích về quan hệ của chúng, theo đó tác giả cho rằng việc áp dụng các phương pháp có sự tham gia có thể củng cố sức mạnh của vốn xã hội trên địa bàn. Coulthard và các cộng sự (2001) cũng cho rằng vốn xã hội có thể góp phần tăng cường mối quan hệ đối tác và phương pháp tiếp cận có sự tham gia cho phát triển bền vững. Cụ thể hơn, Ashman (1996) cho rằng việc tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội có thể tạo ra vốn xã hội góp phần giải quyết các vấn đề nảy sinh trong tương lai. Wollebaek và Selle (2003) cũng đã đưa ra kết luận là sự tham gia vào các tổ chức hội chắc chắn sẽ góp phần tăng cường vốn xã hội ở cả hai lĩnh vực: niềm tin xã hội và sự cam kết dân sự.

Có rất nhiều động cơ về lợi ích thúc đẩy cá nhân tham gia vào các hoạt động của các nhóm/tổ chức tự nguyện. Taylor (1992) đã xác định các yếu tố lợi ích kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa ảnh hưởng đến việc người dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng như: mong muốn được tham gia vào các hoạt động chung, hỗ trợ lẫn nhau, tăng cường bản sắc cộng đồng, và giúp các cá nhân có cảm giác thân thiết. Trong nhiều trường hợp, quyết định tham gia được đưa ra do cá nhân nhận được đề nghị giúp đỡ từ người khác mà họ biết. Quan hệ xã hội, trong trường hợp này, dường như đã trở thành yếu tố chủ đạo quyết định sự tham gia của cá nhân vào một hoạt động/sự kiện nào đó.

Như vậy, có thể thấy rằng khi cá nhân tham gia vào một hoạt động/nhóm nào đó, họ sẽ tham gia vào các tương tác xã hội diễn ra giữa các thành viên trong và ngoài nhóm. Điều này có thể góp phần hình thành những mối liên hệ yếu, một yếu tố quan trọng của vốn xã hội. Nếu các cá nhân có thể thực sự tham gia vào các hoạt động của nhóm, họ có thể trở thành điểm nối giữa các nhóm mà họ là thành viên. Thông qua việc trao đổi thông tin thường xuyên qua một cá nhân sẽ hình thành những mối quan hệ mạnh hơn.

1.3. Các nghiên cứu về mức độ tham gia xã hội

Một trong các hướng nghiên cứu về mức độ tham gia là nghiên cứu xem việc tham gia thực hiện theo những hình thức nào. Pattie và các cộng sự (Pattie et. al, 2003) phân ra hai nhóm hình thức tham gia: tham gia các hoạt động chính trị và tham gia các hoạt động mang tính hiệp hội. Trong đó, tham gia các hoạt động chính trị nhằm tạo ra những tác động trong thay đổi vận động chính sách còn tham gia các hoạt động mang tính hiệp hội được gộp lại tùy theo loại hình tổ chức và sở thích của các thành viên, các câu lạc bộ, loại hình nghệ thuật,... Các hoạt động hội, nhóm ở hình thức thứ hai có thể tiếp tục được chia thành hai dạng: thụ động - chỉ tham gia là thành viên của một nhóm nào đó; hoặc chủ động - trực tiếp tham gia vận hành một tổ chức hoặc hoạt động tình nguyện bao gồm cả việc tham gia vào các mạng lưới phi chính thức.

Nhiều tác giả khác cũng đề xuất phân loại thành hai hình thức nhưng hơi khác với sự phân chia của Pattie (Patti et. al, 2003): tham gia của công dân và tham gia dân sự (Jochum và cộng sự, 2005). Sự tham gia của công dân được mô tả tương tự như hình thức tham gia chính trị của Pattie (Pattie et. al, 2003) với các hoạt động trong các quá trình chính trị. Còn tham gia dân sự hướng đến các hình thức phi chính thức nhiều hơn. Trong khi đó, theo tổ chức Community Local Governance (2009) đưa ra cách tiếp cận tương đối khác khi mà sự phân chia của nhóm này cho thấy mức độ tham gia khác nhau qua từng thang bậc, bao gồm: i) các hoạt động tham gia nhằm tác động chính sách (civic activism); ii) tham gia trong các cuộc tham vấn (civic consultation); và iii) tham gia dân sự, như là tham gia ký đơn kiến nghị, liên lạc với giới chính địa phương;…

Nhằm tổng hợp các cách phân loại sự tham gia khác nhau, nhóm tác giả tại Anh đã nêu ba hình thức tham gia: tham gia công cộng, tham gia xã hội và tham gia cá nhân (Brodie E. et al, 2009). Tham gia công cộng là hình thức mà cá nhân có những cam kết với các thể chế dân chủ. Về bản chất, hình thức này cũng tương tự “tham gia chính trị”, nhưng các tác giả nhấn mạnh việc lựa chọn cách phân loại này nhằm làm nổi bật đặc điểm của hình thức này (tham gia để đóng góp tiếng nói, và góp phần đến thay đổi chính sách). Hình thức thứ hai, tham gia xã hội, nhấn mạnh việc các cá nhân tham gia hoạt động tập thể trong cuộc sống thường nhật như các hoạt động diễn ra trong các thể chế chính thức hoặc các hiệp hội tự nguyện. Còn hình thức tham gia cá nhân chỉ những hoạt động mà người ta thực hiện theo lựa chọn riêng của mình, những hoạt động người dân thực hiện hàng ngày, đồng thời cũng phản ánh kỳ vọng của họ về một xã hội mà họ hướng tới.

Một số nghiên cứu gần đây cũng bắt đầu chú ý đến hình thức tham gia mới, đó là tham gia vào không gian số. Sự phát triển nhanh chóng của internet và công nghệ di động đã mở ra cơ hội cho người Việt Nam tham gia trực tuyến (e-participation). Theo Nguyễn Quý Thanh và Nguyễn Thị Kim Nhung (2013), khi tham gia không gian số, các cá nhân có thể ẩn danh tính thực, tạo nhiều nhân dạng khác nhau, qua đó xóa bỏ những rào cản do vị thế xã hội đem lại, mạnh mẽ và quyết liệt hơn khi có ý kiến. Việc xóa bỏ ranh giới không gian, thời gian và khoảng cách xã hội trên không gian số giúp các cá nhân có thể tham gia vào nhiều chủ đề khác nhau. Nghiên cứu của Barry Wellman và các cộng sự (2001) cũng khẳng định rằng giao tiếp trên internet có thể bổ sung cho loại hình giao tiếp mặt đối mặt và qua điện thoại. Việc thường xuyên sử dụng internet có thể làm tăng khả năng gia nhập các nhóm tự nguyện và các tổ chức chính trị của cá nhân. Các tác giả khẳng định rằng việc sử dụng internet làm tăng khả năng kết nối của các cá nhân và sự tham gia của họ vào các loại hình tổ chức.

Tuy nhiên, không phải hình thức tham gia, mà nội dung sự tham gia mới tạo ra ý nghĩa đích thực của nó. Nội dung này bao gồm những hoạt động thực tế mà các cá nhân tham gia thực hiện. Các nghiên cứu về sự tham gia tập trung vào các nội dung như sự tham gia các hoạt động và tư vấn về chính sách, tham gia vào các dự án phát triển, tham gia vào đời sống chính trị.

Ví dụ, Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn Quý Nghị và các đồng tác giả (2015) cho thấy trong những năm gần đây, trong thực tế, quy trình xây dựng chính sách của Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể. Thay vì cách làm từ trên xuống (top-down) trước đây, thì cách làm từ cộng đồng đi lên (bottom-up) ngày càng được chú ý hơn. Báo cáo của Liên hiệp quốc và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội của Việt Nam (UN và MOLISA, 2009) cho thấy, trên cả nước tỉ lệ tham gia vào các chương trình, dự án phát triển của các hộ gia đình lần lượt là 24,6% (năm 2009) và 26,7% (năm 2010). Vùng miền núi phía Bắc Việt Nam có tỉ lệ cao nhất số hộ tham gia vào các chương trình xóa đói giảm nghèo (47,3% năm 2009 và 49,7% năm 2010). Tuy nhiên, mức độ tham gia của người dân trong những chương trình này còn nhiều hạn chế, chủ yếu dừng lại ở mức nhận hỗ trợ hơn là tham gia vào quá trình ra quyết định. Đối với sự tham gia vào các hoạt động chính trị, dân chủ cơ sở, nghiên cứu của Viện Xã hội học tại một số tỉnh (Vũ Mạnh Lợi và Trần Thị Minh Thi, 2012) cho thấy có những mối liên hệ nhất định giữa các nhóm nghề nghiệp, tầng lớp khác nhau với việc triển khai dân chủ tại cơ sở. Nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ người được hỏi biết tên người đang nắm giữ chức danh bí thư hoặc phó bí thư của xã tại tất cả các tỉnh được khảo sát đều dưới 50%. Thực trạng với các chức danh chủ chốt trong ủy ban nhân dân (UBND) xã cũng tương tự. Từ đây đặt ra câu hỏi là liệu sự tham gia xã hội của những người dân có thực chất và có ý nghĩa trong bối cảnh như vậy.

Tóm lại, các nghiên cứu hiện có của Việt Nam về quy mô, lợi ích và mức độ tham gia thường nhìn nhận sự tham gia nói chung, không tập trung vào các nhóm/tổ chức tự nguyện mà cá nhân là thành viên. Đồng thời, các nghiên cứu hiện có thường phân tích chung cho toàn xã hội, riêng cho khu vực đô thị hoặc nông thôn, chứ ít có nghiên cứu so sánh. Bài viết này sẽ góp phần cung cấp thêm những bằng chứng thực nghiệm về các nội dung này từ kết quả khảo sát quy mô lớn, đặc biệt so sánh nông thôn và đô thị để xem các đặc trưng vùng miền có tạo ra những khác biệt hay không.

2.   Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu

Trong bài viết này, chúng tôi cũng sẽ thực hiện đo và đánh giá về sự tham gia thông qua ba tham số: quy mô, lợi ích nhận được (mức vốn xã hội) và mức độ tham gia. Cơ sở dữ liệu trong bài viết là từ phỏng vấn cấu trúc 1430 đại diện hộ gia đình tại 5 tỉnh, thành ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam.2

Trong nghiên cứu này, các nhóm và tổ chức tự nguyện gồm hai loại: chính thức và phi chính thức. Các tổ chức chính thức bao gồm các tổ chức và hiệp hội không thuộc các cơ quan công quyền (Chính phủ) nhưng có quan hệ và gắn bó chặt chẽ với các cơ quan công quyền. Đó là các tổ chức như hội phụ nữ, công đoàn, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, hội nông dân, hội khuyến học, hội người cao tuổi, và hội chữ thập đỏ. Các tổ chức phi chính thức bao gồm hội nghề nghiệp, câu lạc bộ dân số, hội đồng ngũ, hội đồng môn, hội đồng hương, nhóm/câu lạc bộ thơ, nhóm/hội thể thao, phường/hụi/họ vay tiền, nhóm/tổ chức tôn giáo, hội cùng làm ăn, nhóm/câu lạc bộ sức khỏe, và các nhóm khác. Trong khi các tổ chức chính thức có cơ cấu thứ bậc chặt chẽ, mạng lưới rộng khắp, ngân sách có sự hỗ trợ của Chính phủ thì các tổ chức phi chính thức cơ cấu khá lỏng lẻo, mạng lưới hạn chế, ngân sách chủ yếu là tự đóng góp hoặc xin các nhà tài trợ không thường xuyên.

Việc đo quy mô nhóm/tổ chức mà cá nhân tham gia được thực hiện thông qua số lượng tuyệt đối nhóm/tổ chức mà cá nhân là thành viên. Tùy theo đặc điểm của bản thân, cá nhân có thể tham gia các nhóm khác nhau. Ví dụ, Hội phụ nữ là đặc thù cho phụ nữ, cho nên số lượng tối đa các tổ chức mà nam giới có thể tham gia (trong nghiên cứu này) chỉ là 17, của nữ là 18. Tuổi 30 có thể xem là ranh giới cuối với tổ chức Đoàn thanh niên; Hội người cao tuổi dành cho những người từ 60 tuổi trở lên; Công đoàn chỉ dành cho những người đi làm công ăn lương tại các cơ sở sản suất, kinh doanh và dịch vụ. Việc tính toán tỉ lệ phần trăm dân số tham gia vào một nhóm cụ thể được hiệu chỉnh theo các đặc điểm này. Cá nhân có số lượng nhóm/tổ chức tham gia nhiều, tức là có quy mô tham gia xã hội lớn; nhóm có tỉ lệ dân số tham gia nhiều có mức độ phổ biến cao.

Lợi ích của việc tham gia vào nhóm là các thành viên có thể nhận được những loại hình trợ giúp (nếu có) như: i) trợ giúp bằng tiền/kinh tế; ii) về sức lao động; iii) về thông tin, cơ hội làm ăn; iv) chia sẻ về tình cảm; v) trợ giúp “khác”. Trong nghiên cứu này, chúng tôi loại bỏ loại hình trợ giúp “khác”, cho nên số lượng loại hình trợ giúp cá nhân có thể nhận được là từ 0 - 4. Người càng nhận số lượng nhiều loại hình lợi ích chứng tỏ mức vốn xã hội họ nhận được càng cao.

Mức độ tham gia vào các nhóm mà cá nhân là thành viên được đo bằng thang 0 - 10, trong đó “Không tham gia” tương ứng mức 0, “Tham gia mọi hoạt động” tương ứng mức 10. Như vậy, người càng có điểm số cao càng là những thành viên tích cực của các nhóm/tổ chức.

Các so sánh giữa các giá trị trung bình về quy mô tham gia, lợi ích nhận được và mức độ tham gia giữa người nông thôn và đô thị được thực hiện bằng kiểm định T cho hai mẫu độc lập (Independent Sample T-test). Mức ý nghĩa thống kê mặc định để thực hiện các kiểm định giả thuyết là α ≤ 0,05.

3. Một số bằng chứng thực nghiệm từ nghiên cứu

3.1. Quy mô sự tham gia của người Việt Nam nói chung không lớn, nhưng người nông thôn có quy mô lớn hơn so với người đô thị, nhất là với các nhóm/tổ chức chính thức

Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy, một người trung bình tham gia 1,7 nhóm/tổ chức tự nguyện (độ lệch chuẩn là 1,7). Trong đó có 0,9 nhóm/tổ chức phi chính thức (độ lệch chuẩn là 0,9) và 0,7 nhóm/tổ chức chính thức (độ lệch chuẩn là 1,1). Người tham gia nhiều nhất là 12 nhóm/tổ chức tự nguyện. Như vậy, số lượng các nhóm/tổ chức tự nguyện mà các cá nhân tham gia rất dao động giữa các cá nhân. Đặc biệt, mức độ biến thiên số lượng này ở nhóm/tổ chức phi chính thức lớn hơn so với nhóm/tổ chức chính thức.

Hình 1: Tỉ lệ phần trăm người tham gia theo số lượng nhóm/tổ chức

Như vậy, tính chung có 28,7% người khảo sát cho rằng họ không tham gia bất cứ nhóm/tổ chức tự nguyện nào. Tỉ lệ người tham gia là thành viên của một nhóm/tổ chức là 28,6%, tham gia vào hai nhóm là 18,6%, ba nhóm là 11,8%. Rất ít người tham gia từ bốn nhóm trở lên. Kết quả phân tích cho thấy chỉ có tổng số 6,8% số người được khảo sát là thành viên của bốn nhóm/tổ chức trở lên.

Việc gia nhập các nhóm/tổ chức tự nguyện bên cạnh yếu tố tự nguyện, còn có yếu tố phù hợp với đặc thù về giới tính, nghề nghiệp và độ tuổi. Tỉ lệ tham gia các nhóm cụ thể như hình sau.

Hình 2: Tỉ lệ tham gia với từng nhóm/tổ chức cụ thể (%)

 

 

 

 

 

 

 

 

Theo kết quả này, gần một nửa số phụ nữ được hỏi (49,5%)3 cho biết họ là thành viên của hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 36,8% thanh niên trong độ tuổi từ 30 trở xuống là Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, 36,3% người được hỏi đang đi làm công ăn lương hoặc tự làm kinh doanh hoặc làm dịch vụ cho biết là có tham gia Công đoàn, 16,4% người cao tuổi trên 60 tham gia Hội người cao tuổi. Như vậy, các nhóm/tổ chức tự nguyện chính thức vẫn có mức độ phổ biến và số lượng thành viên đông hơn các nhóm/tổ chức phi chính thức. Câu lạc bộ thơ ít phổ biến nhất khi chỉ có 0,6% người được hỏi (chủ yếu là nam giới cao tuổi) cho biết họ tham gia câu lạc bộ này.

Vậy quy mô tham gia các nhóm/tổ chức này có khác biệt gì giữa những người nông thôn và đô thị không? Kiểm định T cho hai mẫu độc lập cho thấy những người sống ở nông thôn có xu hướng tham gia nhiều hơn vào các nhóm/tổ chức xã hội tự nguyện, nhất là các nhóm/tổ chức tự nguyện chính thức.

 

Bảng 1. Kiểm định T: So sánh số lượng trung bình nhóm/tổ chức

mà cá nhân là thành viên theo khu vực nông thôn và đô thị

Tiêu chí so sánh

Khu vực

N

Trung bình

t

df

P

(hai phía)

Trung bình khác biệt

Sai số khác biệt

Khoảng tin cậy 95% của

 khác biệt

Mức dưới

Mức trên

Số nhóm/

tổ chức chính thức

 

Nông thôn

616

1,03

4,51

1428

≤ 0,001

0,233

0,0512

0,132

0,335

Đô thị

814

0,80

Số nhóm/

tổ chức phi chính thức

Nông thôn

616

0,75

0,06

1428

≥ 0,05

0,003

0,060

-0,115

0,121

Đô thị

814

0,74

Tổng số nhóm/

tổ chức

 

Nông thôn

616

1,79

2,56

1428

≤ 0,05

0,237

0,093

0,056

0,419

Đô thị

814

1,55

 

Sự khác biệt này nằm ở tổng số nhóm/tổ chức và số lượng nhóm/tổ chức chính thức mà các cá nhân tham gia. Theo đó, người dân nông thôn tham gia vào 1,8 so với 1,6 nhóm/tổ chức mà người dân đô thị tham gia. Số lượng nhóm/tổ chức chính thức mà người dân nông thôn tham gia cũng lớn hơn so với số lượng này của người dân đô thị (1 so với 0,8). Trong khi đó, số lượng nhóm/tổ chức phi chính thức mà người dân đô thị và nông thôn tham gia cơ bản là tương đương (0,8 của nông thôn so với 0,7 của đô thị). Như vậy, quy mô tham gia xã hội của người dân nông thôn lớn hơn người dân đô thị (xét riêng cho các nhóm thực).

3.2. Việc tham gia các nhóm/tổ chức tự nguyện làm gia tăng vốn xã hội của các cá nhân. Người dân nông thôn nhận được nhiều lợi ích hơn từ các nhóm/tổ chức này so với người dân đô thị

Khi tham gia các nhóm/tổ chức tự nguyện, các cá nhân muốn đem những đóng góp của mình (công sức, tiền bạc) cho nhóm/tổ chức. Mặt khác, với tư cách thành viên, cá nhân cũng có thể kỳ vọng nhận được những trợ giúp từ nhóm/tổ chức này. Nói cách khác, các cá nhân có thể gia tăng thêm “vốn xã hội” từ sự tham gia này. Các lợi ích mà cá nhân có thể nhận được khi tham gia các nhóm/tổ chức này là “trợ giúp tiền”, “trợ giúp về sức lao động”, “trợ giúp về thông tin, cơ hội làm ăn” và “chia sẻ về tình cảm”. Nhìn chung, trung bình một thành viên nhận được 1,5 loại trợ giúp (trong tổng số 4 loại được khảo sát) (độ lệch chuẩn là 1). Mức độ nhận được sự trợ giúp từ các nhóm/tổ chức chính thức và phi chính thức cũng tương đương nhau mức chung (đều là 1,5). Như vậy, mức vốn xã hội mà các cá nhân nhận được từ nhóm/tổ chức phi chính thức và nhóm/tổ chức chính thức là tương đương.

Kiểm định T cho thấy mức độ nhận được sự trợ giúp từ các nhóm/tổ chức mà cá nhân là thành viên khác biệt đáng kể giữa người dân sống ở đô thị và người dân sống ở nông thôn. Kết quả phân tích cho thấy, những người sống ở nông thôn nhận được nhiều sự trợ giúp từ các nhóm/tổ chức tự nguyện mà họ tham gia.

Bảng 2. Kiểm định T: So sánh mức độ trợ giúp theo khu vực nông thôn và đô thị

Tiêu chí so sánh

Khu vực

N

Trung bình

t

df

P

(hai phía)

Trung bình khác biệt

Sai số khác biệt

Khoảng tin cậy 95% của

khác biệt

 

Mức dưới

Mức trên

Số nhóm/

tổ chức chính thức

Nông thôn

403

1,65

2,239

856

P ≤ 0,05

0,171

0,077

0,021

0,322

Đô thị

455

1,48

Số nhóm/

tổ chức phi chính thức

Nông thôn

247

1,69

3,211

495

P ≤ 0,001

0,276

0,086

0,107

0,445

Đô thị

351

1,42

Tổng số nhóm/

tổ chức

Nông thôn

443

1,61

2,726

1004

P ≤ 0,05

0,176

0,065

0,049

0,303

Đô thị

563

1,43

 

Cụ thể, tổng số người nông thôn nhận được 1,6 sự trợ giúp so với 1,4 của người đô thị. Nếu xem xét riêng nhóm/tổ chức chính thức và phi chính thức thì tương quan số lượng trợ giúp mà người nông thôn nhận được so với người đô thị là cũng tương tự (1,6 so với 1,4). Các khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê ở mức cao (P ≤ 0,05). Nói cách khác, lợi ích mà người nông thôn nhận được từ các nhóm/tổ chức mà họ là thành viên cao hơn so với người đô thị. Từ đó có thể khẳng định người nông thôn gia tăng vốn xã hội của mình qua các nhóm/tổ chức mà họ tham gia mạnh hơn so với người đô thị.

3.3. Mức độ tham gia vào các hoạt động do nhóm/tổ chức mà các cá nhân là thành viên là tham gia vào nhiều hoạt động của nhóm/tổ chức. Điều này đúng với cả những người sống ở nông thôn và những người sống đô thị

Những lợi ích mà các thành viên nhận được, một phần là hệ quả của sự tham gia vào các hoạt động của nhóm/tổ chức. Theo logic, thành viên càng tích cực và chủ động trong hoạt động của nhóm/tổ chức thì khả năng họ sẽ nhận được nhiều lợi ích từ đó hơn. Tất nhiên, trong mọi tổ chức tự nguyện, hiện tượng “người ăn ké” (free rider) luôn tồn tại. Những người này ít hoặc hầu như không tham gia đóng góp vào các hoạt động của nhóm/tổ chức, nhưng vẫn tìm kiếm những lợi ích với tư cách là thành viên của nhóm/tổ chức. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ tham gia trung bình tính chung cũng như trong các nhóm/tổ chức chính thức và phi chính thức đều dao động xung quanh mức 7,5/10. Như vậy, nhìn chung các thành viên này tham gia vào đa số các hoạt động do các nhóm/tổ chức này thực hiện.

Bảng 3. Kiểm định T: So sánh mức độ tham gia theo khu vực nông thôn và đô thị

Tiêu chí so sánh

Khu vực

N

Trung bình

t

df

P

(hai phía)

Trung bình khác biệt

Sai số khác biệt

Khoảng tin cậy 95% của

 khác biệt

Mức dưới

Mức trên

Số nhóm/

tổ chức chính thức

 

Nông thôn

393

7,59

0,943

840

P ≥ 0,05

0,178

0,189

-0,193

0,550

Đô thị

449

7,41

Số nhóm/

tổ chức phi chính thức

Nông thôn

237

7,62

0,654

578

P ≥ 0,05

0,137

0,209

-0,274

0,547

Đô thị

343

7,49

Tổng số nhóm/

tổ chức

 

Nông thôn

431

7,51

0,241

982

P ≥ 0,05

0,040

0,166

-0,286

0,367

Đô thị

553

7,47

 

Mức độ tham gia vào các hoạt động của nhóm/tổ chức mà cá nhân là thành viên đối với người nông thôn tính chung, hoặc tính riêng cho các nhóm/tổ chức chính thức hoặc phi chính thức đều dao động xung quanh mức 7,5 - 7,6; đối với người đô thị, mức độ này chỉ xấp xỉ 7,4. Chính vì vậy, kiểm định T cho thấy mức độ tham gia các nhóm/tổ chức mà cá nhân là thành viên của những người sống ở nông thôn và đô thị không khác biệt đáng kể (P ≥ 0,05). Có nghĩa là, dù thành viên các nhóm/tổ chức này là người sống ở nông thôn, hay là người sống ở đô thị, khi họ đã là thành viên của nhóm/tổ chức thì mức độ tham gia đều khá cao giống nhau.

Phân tích sâu hơn về mối quan hệ của sự tham gia và việc nhận lợi ích từ nhóm/tổ chức, chúng tôi thấy rằng với những người sống ở nông thôn, hiện tượng “người ăn ké” trong việc nhận các lợi ích từ các nhóm/tổ chức rất ít, chỉ chiếm khoảng 2,7% tổng lợi ích. Có nghĩa là hầu như người nhận lợi ích đều tham gia vào hoạt động của nhóm/tổ chức. Trong khi đó, tỉ lệ này với người đô thị còn thấp hơn, chỉ có 1,8%. Tức là cứ 100 người là thành viên của nhóm/tổ chức có nhận lợi ích thì có gần 2 người không tham gia các hoạt động, nhưng vẫn nhận các lợi ích này.

4. Thảo luận

Như vậy, quy mô sự tham gia của người Việt Nam nói chung không lớn, nhưng cũng ở mức khá tương đương với các nước cùng trình độ phát triển như Việt Nam. Kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới, các loại hình nhóm/tổ chức tự nguyện, cả chính thức và phi chính thức, phát triển ngày càng nhiều. Nhiều loại hình nhóm/tổ chức gắn với các nhu cầu, sở thích khác nhau của các cá nhân. Sự phát triển của các tổ chức này làm tăng cơ hội của các cá nhân tham gia xã hội, qua đó thực hiện các đóng góp của mình vào các lĩnh vực khác nhau. Ví dụ, các chiến dịch tuyên truyền về dân số, kế hoạch hóa gia đình thường được thực hiện ở các câu lạc bộ dân số, câu lạc bộ sức khỏe, hội phụ nữ. Các thành viên của các hội, câu lạc bộ này có thể tham gia thực hiện các hoạt động với sự tài trợ của chính quyền, hay các tổ chức phi chính phủ. Tương tự như vậy, sự tham gia vào các tổ chức như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh làm tăng cơ hội của cá nhân tham gia thảo luận về những vấn đề chính trị, xã hội quan trọng của đất nước. Qua đó các thành viên góp phần ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp vào việc ra các quyết định của cơ quan công quyền, hay việc hoạch định và vận động chính sách. Sự phổ biến của các nhóm/tổ chức chính thức chứng tỏ rằng các nhóm/tổ chức phi chính thức chưa đủ mạnh để thu hút sự quan tâm của người dân. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa phân tích sâu vào các nhóm, cộng đồng ảo đang ngày càng phổ biến và có thể sẽ thay thế cho nhiều nhóm/tổ chức hiện thực trong tương lai gần.

Ở nông thôn, tinh thần “tập thể”, tính cách “cộng đồng” vẫn còn khá phổ biến. Chính điều này có thể là yếu tố giúp cho người nông thôn có quy mô tham gia xã hội lớn hơn so với người đô thị. Như chúng ta đã biết, giao tiếp của người sống ở đô thị có tính chọn lọc và hướng đích rất cao. Họ thường chỉ tham gia vào các nhóm/tổ chức tự nguyện nếu mục đích phù hợp mục đích của họ. Trong khi đó, người dân nông thôn tham gia các nhóm/tổ chức này nhiều khi còn để giao lưu, học hỏi và giải trí. Việc người dân nông thôn tham gia nhiều vào các tổ chức chính thức như hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh,… nhiều hơn so với người sống ở đô thị là mức độ tin tưởng vào tổ chức gắn với Nhà nước của họ cao hơn. Bên cạnh đó, người dân nông thôn cũng có ít lựa chọn về các hoạt động cá nhân, ngoài các nhóm/tổ chức hơn so với người dân thành thị.

Tuy nhiên, với những xã hội mà mức sống chưa cao như Việt Nam, việc tham gia các nhóm/tổ chức phải đem lại những lợi ích nhất định, nếu không thì các thành viên sẽ tự rời bỏ. Những lợi ích có thể là vật chất hay tinh thần. Lợi ích các cá nhân nhận được từ các nhóm/tổ chức mà cá nhân là thành viên chính là vốn xã hội của họ. Điều này đặc biệt hữu ích khi họ khó khăn trong cuộc sống. Trên thực tế, các tổ chức, đoàn thể ở các địa phương cũng có những hình thức khác nhau giúp đỡ cho thành viên của mình khi họ gặp khó khăn. Thực tế này cũng đang ngày càng phổ biến với các nhóm/tổ chức phi chính thức. Nhiều hội đồng hương đã giúp đỡ các thành viên trong việc hội nhập, trợ giúp trong tìm kiếm việc làm, cơ hội làm ăn tại nơi di cư đến,… Tuy nhiên, dường như các nhóm/tổ chức phi chính thức chưa nhiều những lợi ích về kinh tế, chính trị và xã hội nếu so với các nhóm/tổ chức chính thức, do vậy sức hút với người dân chưa mạnh, ít nhất trong bối cảnh thu nhập của người dân chưa cao. Người dân nông thôn nhận được nhiều lợi ích hơn so với người dân đô thị từ các nhóm/tổ chức phi chính thức là do sự hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức quốc tế hoặc các tổ chức phi chính phủ thường được thực hiện thông qua các nhóm/tổ chức này ở nông thôn. Do đó, các thành viên ở nông thôn có thể được hưởng lợi từ các chương trình dự án được triển khai tại địa phương họ.

Sự tồn tại của nhóm/tổ chức thể hiện qua việc chúng có các hoạt động với tư cách là nhóm/tổ chức hay không. Thế nhưng, việc chúng hoạt động thế nào phụ thuộc vào mức độ tham gia của các thành viên. Nếu thành viên ít tham gia các hoạt động thì nhóm/tổ chức sẽ yếu. Có những tình huống các thành viên hoạt động (active member) ở các nhóm/tổ chức phi chính thức (ví dụ hội đồng hương, đồng môn), chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ, trong khi những thành viên khác ít tích cực. Thậm chí có những người cũng đăng ký tham gia, nhưng hầu như không bao giờ tham gia hoạt động nào của nhóm. Tuy nhiên, những bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy mức độ tham gia vào các hoạt động do nhóm/tổ chức mà các cá nhân là thành viên tham gia vào nhiều hoạt động của nhóm/tổ chức. Hiện tượng “người ăn ké” không phổ biến trong các nhóm/tổ chức ở Việt Nam. Điều này đúng với cả những người sống ở nông thôn và những người sống ở đô thị.

Kết luận

Bài viết đã tổng quan lại các nghiên cứu về quy mô, lợi ích và mức độ của tham gia xã hội. Đồng thời đã cung cấp những bằng chứng thực nghiệm cho thấy quy mô sự tham gia của người Việt Nam còn nhỏ, tuy nhiên mức độ tham gia là khá cao và các thành viên nhận được những lợi ích nhất định từ sự tham gia. Chính điều này có thể là nguyên nhân tạo ra và duy trì mức tham gia cao của các thành viên trong các nhóm/tổ chức tự nguyện. Đồng thời, cũng chính các yếu tố này đã và đang góp phần tăng cường kết nối dân sự, mở rộng không gian dân sự cho người dân. Những bằng chứng ban đầu cho thấy, với các nhóm/tổ chức tự nguyện hiện thực, sự kết nối dân sự của cư dân nông thôn rộng hơn so với cư dân đô thị.

Bài viết cũng gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo là làm rõ mối quan hệ tương tác giữa các nhóm/tổ chức chính thức và phi chính thức, sự tham gia vào các nhóm/tổ chức trên không gian số và vai trò của chúng trong đời sống chính trị xã hội của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1.      Arnstein S. R. (1969), “A ladder of Citizen Participation”, Journal of the American Institute of Planners, 35(4): 216-224.

2.      Barry Wellman et al. (2001), “Does the Internet Increase, Decrease, or Supplement Social Capital? Social Networks, Participation, and Community Commitment”, American Behavioral Scientist, Vol. 45, No. 3, November, 436 - 455.

3.      Brodie E. et al (2009), “Understanding participation: a literature review, Pathway through participation project”, http://pathwaysthroughparticipation.org.uk/wp-content/uploads/2009/09/Pathways-literature-review-final-version.pdf, truy cập ngày  5/7/2015.

4.      F.R. Baumgartner& J. L. Walker(1988), “Survey research on membership in voluntary association”, American Journal of Political Science (Vumlume 32), Issue 4 (Nov. 1988), Pp. 908 - 928.     

5.      Community Local Government (2009), “Citizenship survey April-December 2008”. England,http://webarchive.nationalarchives.gov.uk/20120919132719/http:/www.communities.gov.uk/documents/statistics/pdf/164191.pdf, truy cập ngày 5/7/2015.

6.      Coulthard M et al. (2001), “Assessing people’s perceptions of their neighbourhood and community involvement” (Part 1), Health Development Agency, London.

7.      James E. Curtis, Edward G. Grabb and Douglas E. Baer (1992), “Voluntary Association Membership in Fifteen Countries: A Comparative Analysis Authors”, American Sociological Review, Vol. 57, No. 2 (Apr., 1992), Pp. 139-152.

8.      R. J. Dalton& Nhu-Ngoc T. Ong (2001), “Civil Society and Social Capital in Vietnam”, http://www.democracy.uci.edu/files/docs/vietnam/vietnam04.pdf, truy cập ngày 5/7/2015.

9.      Jochum V (2003), “Social capital: beyond the theory”, London: NCVO.

10.  Levasseur M. et al. (2010), “Inventory and analysis of definitions of social participation found in the aging literature: Proposed taxonomy of social activities”, Social Science & Medicine, 71 (2010), 2141 - 2149.

11.  MOLISA and UN (2009), “Reviewing the past responding to new challenges: A mid-term review of the National Targeted Programme for Poverty Reduction, 2006 - 2008”, Hanoi.

12.  Vũ Mạnh Lợi và Trần Thị Minh Thi (2012), “Những vấn đề cơ bản về các giai tầng xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2020”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Xã hội học.

13.  Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2013), Báo cáo số 408/BC-MTTW-BTT “Báo cáo tổng hợp ý kiến của nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”, ngày 30/3/2013.

14.  Pattie C. et al., (2003), “Civic attitudes and Engagement in Modern Britain”, Parliamentary Affairs, 56: 616 - 633.

15.  Pelling M (1998), “Participation, social capital and vulnerability to urban flooding in Guyana”, Journal of International Development 10, 469 - 486.

16.  Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn Quý Nghị và các đồng tác giả (2015), Phép đo đạc tam giác về vốn xã hội của người Việt Nam: Mạng lưới quan hệ xã hội - Lòng tin xã hội - Sự tham gia xã hội, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội (sắp xuất bản).

1.      Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn Thị Kim Nhung (2013), “Truyền thông xã hội: Công chúng thực của không gian ảo”, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, Số tháng 11.

2.      Taylor M (1992), “Signposts to community development, Lodon: Community Development Foundation”.

3.      Wollebaek D and Selle P (2003), “Participation and social capital formation: 19. Norway in comparative perspective”, Scandinavian Political Studies, Vol 26, No 1, 67 - 91.

4.      White C.S. (1996), “Depoliticising development: the uses and abuses of participation”, Development in Practice, Vol. 6 (1), Pp 6 - 15.

 



 

* PGS.TS.; Trường Đại học Khoa học Xó hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

1 Bài viết trong khuụn khổ của đề tài “Liờn kết dõn sự và vai trũ của chỳng trong phỏt triển nụng thụn hiện nay (Qua nghiờn cứu so sánh trường hợp đồng bằng sụng Hồng và đồng bằng sụng Cửu Long)” do Quỹ Nafosted tài trợ.

2 Địa bàn khảo sát là 5 tỉnh thành, bao gồm: Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh và Bình Dương. Các phường/xã nằm trong phạm vi khảo sát được lựa chọn kết hợp giữa phân tầng ngẫu nhiên và mẫu cụm tại 5 tỉnh, trong đó 2 phường và 2 xã tại Hà Nội, 2 phường và 2 xã tại Tp. Hồ Chí Minh, 1 phường và 1 xã ở Đà Nẵng, 1 phường ở Tp. Hải Dương tỉnh Hải Dương và 1 phường tại thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương. Các hộ gia đình được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp với phân cụm nhiều giai đoạn (multi-stage cluster sampling). Mỗi hộ gia đình sẽ chọn 1 người nắm vững thông tin về hộ gia đình để phỏng vấn bằng bảng hỏi. Tổng số người được khảo sát tại các đô thị là 8164 người, ở các vùng nông thôn là 616 người.

3 Nếu tính chung cho toàn dân số thì tỉ lệ này là 27,2%, tương đương với tỉ lệ mà Russell J. Dalton Nhu-Ngoc T. Ong công bố năm 2002 (28%).

 

Nguyễn Quý Thanh