Quyền con người từ góc độ tạm giam, tạm giữ: một số vấn đề lý luận và thực tiễn

16/03/2020

QUYỀN CON NGƯỜI TỪ GÓC ĐỘ TẠM GIAM, TẠM GIỮ:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

TRƯƠNG VĂN DŨNG*

 

1. Khái quát về tạm giam, tạm giữ

Tạm giam, tạm giữ là biện pháp tư pháp, thường được áp dụng trong đấu tranh chống tội phạm của cơ quan thực thi pháp luật. Mục đích của tạm giam, tạm giữ là để ngăn chặn hành vi phạm tội và việc lẩn trốn pháp luật của bị can, bị cáo. Một người bị bắt tạm giam, tạm giữ không có nghĩa là họ bị tước đi tất cả các quyền của con người, mà họ chỉ bị hạn chế một số quyền (quyền đi lại, quyền ứng cử, bầu cử,...) để bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Nghĩa là, các quyền khác của họ vẫn được tôn trọng và bảo đảm. Bắt người để tạm giam, tạm giữ không phải là biện pháp trừng phạt đối với người phạm tội mà là biện pháp ngăn chặn được áp dụng để hạn chế (loại bỏ) điều kiện gây ra phạm tội, ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi trốn tránh pháp luật của người thực hiện hành vi phạm tội, bảo đảm sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đây là những biện pháp cưỡng chế cần thiết do các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo. Một số trường hợp, có thể áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố (như người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và trong trường hợp khẩn cấp) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án.

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam, tạm giữ là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự. Hay nói cách khác, đối tượng bị bắt để tạm giam, tạm giữ chỉ có thể là bị can, bị cáo, nhưng chưa phải là tội phạm (tù nhân). Người chưa bị khởi tố (chưa phải là bị can) hoặc người không bị Tòa án đưa ra xét xử không thể bị bắt để tạm giam. Như vậy, nếu người chưa bị khởi tố hoặc người không bị Tòa án đưa ra xét xử mà vẫn bị bắt để tạm giam thì có nghĩa các cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm pháp luật, lúc này, quyền con người, quyền công dân của người bị bắt không được đảm bảo.

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam, tạm giữ có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân, vì vậy chỉ những người có thẩm quyền mới có quyền ra lệnh bắt và lệnh bắt phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Các biện pháp ngăn chặn nhằm bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nhưng khi áp dụng chúng cũng rất dễ tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bởi vì, một số hoạt động tố tụng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được thông tin,... của người bị bắt. Vì vậy, không phải bất cứ bị can, bị cáo nào cũng phải bắt tạm giam, tạm giữ, mà tùy theo tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của họ, nhân thân của họ để cơ quan tố tụng quyết định có bắt tạm giam, tạm giữ để phục vụ cho công tác điều tra truy tố, xét xử. Như vậy, có nghĩa là tạm giam, tạm giữ không phải là biện pháp duy nhất để ngăn ngừa phạm tội. Chỉ được bắt người để tạm giam khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội và nếu xét thấy cần phải bắt để tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, xử lý tội phạm. Khi có những điều kiện, dấu hiệu cho thấy người phạm tội không có ý trốn tránh pháp luật, không gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì không nên bắt (thậm chí không được bắt) mà có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác. Chẳng hạn, người phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng hoặc phạm tội do vô ý, không có hành động cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì không cần bắt để tạm giam.

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã là thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các cam kết của mình, đồng thời chủ động hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nhiều hoạt động trên lĩnh vực quyền con người. Do đó, việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng hướng đến hoàn thiện pháp luật về tạm giam, tạm giữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người một cách tốt nhất.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc bắt, giam, giữ là vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, và đông đảo quần chúng nhân dân. Có việc bắt người tùy tiện, bắt oan người không có tội, tạm giam, tạm giữ người mà không có Lệnh đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Có trường hợp cơ quan cấp dưới giữ người nhưng không báo cáo cơ quan có thẩm quyền, xử lý vụ việc tùy tiện, xâm hại nghiêm trọng đến quyền tự do, quyền được bảo hộ về danh dự, nhân phẩm của con người,... “Trong 3 năm (từ ngày 1/10/2011 đến ngày 30/9/2014) khởi tố, điều tra 219.506 vụ với 338.379 bị can, thì có tới 71 trường hợp bị oan sai, trong đó, Cơ quan điều tra đình chỉ 31 bị can do không phạm tội, 12 bị can do hết thời hạn điều tra nhưng không chứng minh được bị can đã thực hiện phạm tội; Viện kiểm sát các cấp đình chỉ 9 bị can do không có sự việc phạm tội; 19 trường hợp được tuyên không phạm tội,...”[1]. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan đến thực tiễn hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

2. Một số quyền cơ bản của người bị tạm giam, tạm giữ

2.1. Quyền được mời luật sư bào chữa bảo vệ quyền lợi

Pháp luật quy định, “người bị bắt, tạm giam, tạm giữ, khởi tố, điều tra, truy tố xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” (Khoản 4, Điều 31, Hiến pháp Việt Nam 2013; từ Điều 48 đến Điều 50 của Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định như vậy).

Điều 4 Thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ Công an quy định: Khi giao Quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ, Quyết định khởi tố bị can cho bị can, điều tra viên phải đọc và giải thích cho họ biết rõ về quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can theo Quy định tại Điều 48, Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự và phải lập biên bản giao nhận Quyết định ghi rõ ý kiến của người bị tạm giữ, bị can về việc có nhờ người bào chữa hay không; trường hợp người bị tạm giữ, bị can chưa nhờ người bào chữa thì trong lần đầu lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can, điều tra viên phải hỏi rõ người bị tạm giữ, bị can có nhờ người bào chữa không và phải ghi ý kiến của họ vào biên bản ghi lời khai hoặc biên bản hỏi cung bị can. Nhưng thực tế, những luật sư đã tham gia bào chữa, bảo vệ cho bị can, bị cáo trong nhiều vụ án và khi xem biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can đều không thể hiện nội dung này (thường chỉ có câu hỏi tình hình sức khỏe của anh thế nào?).

Trong thực tế, những người bị tạm giam, tạm giữ không được thực hiện quyền này, trừ trường hợp người đó phạm tội có khung hình phạt cao nhất hoặc người phạm tội là trẻ vị thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất,... theo Khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003. Theo báo cáo giám sát “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật”, có gần 80% vụ án hình sự hiện nay chưa có luật sư tham gia nên chưa đảm bảo tranh tụng để tránh oan sai...”[2].

Thực tế, người bị tạm giam, tạm giữ do bị hạn chế một số quyền (quyền đi lại, quyền thông tin, quyền gặp người thân,...), nên họ không thể mời được luật sư tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích cho họ trước pháp luật. Có những bị can chỉ biết được quyền của mình khi ra trước tòa, cho nên trong thực tiễn có những phiên tòa phải hoãn xét xử để bị cáo mời luật sư bào chữa bảo vệ quyền lợi cho mình. [Chẳng hạn, các bị cáo Đỗ Anh D, Nguyễn Thị Thanh Thủy trong vụ án hình sự số 37/HSST ngày 23/7/2011 tại Tòa án Nhân dân tỉnh Hòa Bình].[3]

2.2. Quyền được thông tin, gửi đơn khiếu nại, tố cáo

Pháp luật quy định người bị tạm giam, tạm giữ có quyền được thông tin (Điều 44 Luật Tạm giam, tạm giữ), được gửi đơn khiếu nại, tố cáo kể cả đơn yêu cầu tới cơ quan pháp luật để giải quyết vụ việc (Điều 57 Luật Tạm giam, tạm giữ). Nhưng trong thực tế, hầu như không có trường hợp nào được thực hiện các quyền này. Bởi vì, trong bối cảnh họ bị tạm thời cách ly với xã hội bên ngoài, mọi vấn đề muốn thực hiện được thì phải qua cán bộ quản lý trại tạm giam (quản giáo). Nếu cán bộ quản giáo có “lương tâm” thì họ tạo điều kiện cho người bị tạm giam, tạm giữ thực hiện các quyền này. Chẳng hạn, cho ra phòng hỏi cung, cung cấp giấy, bút,... để viết, sau đó họ phải chuyển đơn từ đó đến địa chỉ mà người bị tạm giam, tạm giữ yêu cầu (Khoản 2, Điều 57, Luật Tạm giam, tạm giữ). Nhưng hầu hết người bị tạm giam, tạm giữ đều trả lời rằng họ không được viết đơn, vì cán bộ quản giáo nói rằng đang trong quá trình điều tra không được viết đơn, có nhắn cho người nhà cái gì thì nhắn,... Thực tiễn cũng có một số trường hợp người bị tạm giam, tạm giữ được cán bộ quản giáo cho phép viết đơn khiếu nại, tố cáo, yêu cầu, nhưng đơn đó lại không được gửi đến địa chỉ cần gửi, lý do đơn giản là quản lý trại giam không gửi, trong khi đó Luật quy định quản lý trại giam phải gửi đơn của họ đến các cơ quan chức năng theo yêu cầu ghi trong đơn. Và trong thực tế thời gian vừa qua, sau khi nhiều vụ án oan sai được phanh phui thì chúng ta thấy rõ vấn đề này. Điển hình có thể kể đến đó là vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn được công luận phản ánh rất nhiều trong thời gian vừa qua, hơn 10 năm bị giam giữ với hàng chục lá đơn kêu oan viết từ trong tù nhưng không được gửi đến các cơ quan tố tụng[4], hoặc một ví dụ khác, đó là trường hợp các bị can Nguyễn Hồng S, Đặng Đình T trong vụ án hình sự số 06/HSTT ngày 28/5/2011 tại Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An[5].

2.3. Quyền được hỏi cung bị can tố tụng hình sự

Luật quy định, người bào chữa được quyền hỏi cung bị can nếu được sự đồng ý của điều tra viên (Điều 58, Bộ luật Tố tụng hình sự, 2003). Tuy nhiên, trong thực tế, quyền này hầu như không được thực hiện. Thực tiễn cho thấy đây là một vấn đề rất quan trọng, người bào chữa cho bị can muốn hỏi cung cùng với điều tra viên để bảo đảm tính khách quan, trung thực, tạo tâm lý tốt nhất cho bị can chứng minh hành vi phạm tội hoặc không phạm tội của mình. Do Luật quy định không rõ ràng, cụ thể nên quyền này có thể được thực hiện và cũng có thể không được thực hiện, bởi phải có sự đồng ý của điều tra viên “... người bào chữa có quyền hỏi cung bị can nếu điều tra viên đồng ý...” (điểm a, Khoản 2, Điều 58, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003). Một vấn đề khác nữa, đó là nếu luật sư được hỏi cung thì câu hỏi và trả lời đó có được sử dụng không, thì Luật cũng không quy định. Đây là một vấn đề bất bình đẳng trong tố tụng, chứng cứ của người buộc tội thì được sử dụng còn chứng cứ của người gỡ tội thì không được sử dụng. Thực tiễn, luật sư tham gia hỏi cung bị can cùng với điều tra viên, tuy nhiên câu hỏi và lời khai của bị can lại không được ghi vào biên bản hỏi cung bị can của điều tra viên. Khi hỏi tại sao không ghi vào biên bản thì điều tra viên không trả lời được[6].

2.4. Quyền được gặp người thân, tiếp nhận quà, gửi thư,...

Không phải khi có Bộ luật Tố tụng hình sự (2003), thì vấn đề tạm giam, tạm giữ mới được quy định, mà trước đây vấn đề này cũng đã được Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định về tạm giam, tạm giữ, theo đó “Người bị tạm giam, tạm giữ được nhận thư và gửi thư cho gia đình, được nhận đồ tiếp tế, quần áo, chăn màn, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cần thiết (trừ rượu, bia, thuốc phiện, hàng xa xỉ phẩm, sách báo đồi trụy, phản động) của gia đình, nếu việc gửi, nhận đó không gây trở ngại cho việc điều tra, xét xử án. Cán bộ quản lý nhà tạm giữ, trại tạm giam, phối hợp với cơ quan điều tra giải quyết theo nội quy của trại. Nếu xét thấy không trở ngại cho việc điều tra, xét xử thì người bị tạm giam, tạm giữ được gặp thân nhân gia đình có sự giám sát của nhân viên nhà tạm giữ, trại tạm giam” (Điều 21, Nghị định 149-HĐBT ngày 05/5/1992). Tuy chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện nhưng cũng khá hơn với những quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Cụ thể là, Điều 89, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về chế độ tạm giam, tạm giữ khác chế độ với người chấp hành hình phạt tù, nơi tạm giam, tạm giữ, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình và các chế độ khác được thực hiện theo quy định của pháp luật. Đây là những quy định có tính nguyên tắc do đó còn rất chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng. Do đó, tất cả phải dựa vào Nghị định 89/1998/NĐ-CP, Nghị định 98/2002/NĐ-CP và Thông tư 08/2001/TT-BCA ngày 12/11/2001 của Bộ Công an quy định chung về tạm giam, tạm giữ. Nhưng thực tế, các văn bản này cũng không rõ ràng, cụ thể, thậm chí có những quy định mang tính chất “nước đôi” và phụ thuộc vào cơ quan quản lý tạm giam, tạm giữ. Chẳng hạn, “... Người bị tạm giam, tạm giữ có thể được gặp người thân hoặc luật sư...” (Khoản 1, Điều 27, Luật Tạm giam, tạm giữ). Như vậy, việc người bị tạm giam, tạm giữ có được gặp người thân, luật sư hay không là do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định chứ không phải luật định và việc cơ quan thụ lý không cho gặp cũng không vi phạm luật...

3. Những nguyên nhân hạn chế, bất cập và một số khuyến nghị

3.1. Những nguyên nhân hạn chế và bất cập

- Luật quy định thiếu chặt chẽ, rõ ràng, đôi khi còn quy định mang tính chất tùy nghi, có cũng được, không có cũng được hoặc do cơ quan tố tụng cho phép hoặc không cho phép như một số viện dẫn trên.

- Thiếu tính công bằng và bình đẳng giữa những người tham gia tố tụng, cụ thể là giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng, chứng cứ luật sư thu thập được không được đánh giá, sử dụng như chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 65, 66 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003).

- Người tiến hành tố tụng không thực hiện đúng luật, không giải thích cho người bị tạm giam, tạm giữ biết họ có những quyền gì.

- Người tiến hành tố tụng “ngại” sự tham gia của luật sư. Có một số vụ án luật sư tham gia, và được người thân của người bị tạm giam, tạm giữ thông tin lại rằng: “Điều tra viên nói với người bị tạm giam, tạm giữ, nếu gia đình mời luật sư tội sẽ nặng thêm - lời khai của bị can Nguyễn Văn T trong một vụ án hình sự”[7].

- Do nhận thức không đầy đủ về tính chất, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động bắt người, tạm giam, tạm giữ cũng như các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án làm cho việc vận dụng thiếu chính xác dễ dẫn đến những hoạt động tùy tiện, trái pháp luật, xâm hại đến quyền con người, lợi ích hợp pháp của công dân.

3.2. Một số khuyến nghị

Thứ nhất, Luật cần phải khẳng định rằng: Một người bị bắt tạm giam, tạm giữ không có nghĩa là họ bị tước hết quyền tự do của con người mà họ chỉ bị hạn chế một số quyền để bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

Thứ hai, để bảo đảm các quyền lợi chính đáng của đối tượng này, Luật phải quy định một cách rõ ràng về các quyền của họ, không được quy định có tính chất chung chung, tùy nghi. Không được dùng những thuật ngữ dưới dạng như: “có thể”, “được sự đồng ý”, “tùy trường hợp”,...

Thứ ba, Luật sư có quyền được gặp người bị tạm giam, tạm giữ độc lập tại nơi giam giữ, không phải chịu sự giám sát của cơ quan tố tụng, cơ quan quản lý trại giam trong giai đoạn điều tra.

Thứ tư, tiếp tục nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý trại tạm giam, tạm giữ (quản giáo), kể cả cán bộ tiến hành tố tụng. Để giúp họ hiểu được ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp ngăn ngừa vi phạm pháp luật, tạo điều kiện cho việc làm rõ chân lý khách quan của vụ việc. Người bị tạm giam, tạm giữ chưa phải là tội phạm (tù nhân), các quyền và lợi ích hợp pháp của họ cần được tôn trọng và bảo vệ. Chẳng hạn, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm phải được tôn trọng, có như vậy mới bảo đảm được quyền con người nói chung và quyền của người bị tạm giam, tạm giữ nói riêng. Cơ quan tiến hành tố tụng cần phải hiểu đúng, hiểu đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn sẽ nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm; qua đó cũng góp phần quan trọng và cần thiết để bảo đảm quyền con người.

Thứ năm, xử lý nghiêm minh đối với người vi phạm các quyền của người bị tạm giam, tạm giữ. Đây là một vấn đề không những khó mà là rất khó. Người bị tạm giam, tạm giữ bị phụ thuộc hoàn toàn (bất lợi hoàn toàn) nên không thể tố cáo hành vi vi phạm của cán bộ quản lý trại giam được. Không có một tổ chức, hoặc một cá nhân nào có quyền giám sát việc quản lý người bị tạm giam, tạm giữ. Viện Kiểm sát là cơ quan chức năng duy nhất có quyền này, nhưng cũng chỉ là giám sát, kiểm tra trên giấy tờ mà không giám sát được thực tiễn thi hành. Người bị tạm giam, tạm giữ bị xúc phạm nhân phẩm, danh dự, bị uy hiếp về tinh thần, thể xác là chuyện không thể tránh khỏi. Phải bảo đảm: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”[8].

Do đó, cần phải xây dựng cơ chế giám sát để phát hiện hành vi vi phạm của cơ quan tố tụng, cơ quan quản lý trại giam.

Thứ sáu, Luật cần phải chi tiết, hạn chế thấp nhất văn bản hướng dẫn thi hành, Luật phải thống nhất, dễ hiểu và hạn chế chồng chéo khó thực hiện.

Tóm lại, bảo đảm quyền con người nói chung và quyền của người bị tạm giam, tạm giữ là vấn đề rất quan trọng, luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm, bảo vệ. Quyền của người bị tạm giam, tạm giữ được quy định từ rất lâu trong Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng còn sơ sài, chung chung, chưa được rõ ràng, cụ thể và thiếu khá nhiều nội dung cơ bản. Các quy định về bắt người, tạm giam, tạm giữ là một trong các quy định nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của nhân dân và của cả bị can, bị cáo, của người bị bắt, thường gắn với vi phạm nhân quyền. Do đó, việc xây dựng, hoàn thiện và ban hành Luật tạm giam, tạm giữ là rất cần thiết và cấp bách, nhằm góp phần phát huy dân chủ, tăng cường hơn nữa hiệu lực của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và giàu mạnh, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn và nhu cầu hội nhập quốc tế.

Tài liệu tham khảo

1.        Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013.

2.        Bộ Luật Tố tụng hình sự 2003.

3.        Nghị định 89/1998/NĐ-CP.

4.        Nghị định 98/2002/NĐ-CP.

5.        Thông tư 08/2001/TT-BCA ngày 12/11/2001 của Bộ Công an quy định chung về tạm giữ, tạm giam.

6.        Nghị định 149-HĐBT ngày 05/5/1992.

7.        Báo Người lao động, http:// nld.com.vn.

8.        Báo cáo giám sát “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về tố tụng hình sự và bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật” của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 13, ngày 5/6/2015.

9.        Hồ sơ vụ án hình sự số 37/2011/HSST, Tòa án Nhân dân tỉnh Hòa Bình, năm 2011.

10.    Hồ sơ vụ án Hình sự số 06 HSTT ngày 28/5/2011, Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An, năm 2011.

11.    Hồ sơ vụ án hình sự số 58/2011/HSST, Tòa án Nhân dân huyện Thanh Oai, Hà Nội, năm 2011.

 

 



* TS.; Viện Nghiờn cứu Con người, Viện Hàn lõm Khoa học Xó hội Việt Nam.

[1] Báo cáo giám sát “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật” của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trước kỳ họp thứ  9, Quốc hội khóa 13, ngày 5/6/2015.

[2] Sđd.

[3] Hồ sơ vụ án hình sự số 37/2011/HSST tại Tòa án Nhân dân tỉnh Hòa Bình, năm 2011.

[4] http:// nld.com.vn.

[5] Hồ sơ vụ án Hình sự số 06 HSTT ngày 28/5/2011 tại Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An, năm 2011.

[6] Hồ sơ vụ án hình sự số 58/2011/HSST tại Tòa án Nhân dân huyện Thanh Oai, Hà Nội, năm 2011.

[7] Hồ sơ vụ án hình sự số 58/2011/HSST tại Tòa án Nhân dân huyện Thanh Oai, Hà Nội, năm 2011.

[8] Điều 20, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013.

 

Trương Văn Dũng