Biến đổi hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới

16/03/2020

BIẾN ĐỔI HỆ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

LÊ NGỌC VĂN*

1. Bối cảnh nghiên cứu

Sau gần 30 năm đổi mới (từ năm 1986), xã hội Việt Nam đã và đang trải qua những biến đổi cực kỳ sâu sắc cả trên ba phương diện: kinh tế, chính trị và văn hóa. Nói một cách khái quát thì đó là sự chuyển đổi từ nền văn minh nông nghiệp cổ truyền sang nền văn minh công nghiệp và hiện đại. Nhưng trong lòng cuộc chuyển đổi lớn lao đó còn có một cuộc chuyển đổi nữa: cuộc chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Cần nói ngay là cuộc chuyển đổi kép này vẫn đang còn tiếp diễn, thậm chí đang ở buổi ban đầu, nghĩa là cái mới chưa được hình thành một cách đầy đủ, mà cái cũ cũng chưa mất đi những ảnh hưởng của nó. Tình trạng quá độ giữa hai thời đại đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội: tham nhũng, lãng phí, bất bình đẳng, thiếu dân chủ, lợi ích nhóm,… Trong đời sống gia đình, đó là tình trạng ly thân, ly hôn tăng, bất bình đẳng  giới, trẻ em bỏ học, người già cô đơn, rồi tình trạng bạo lực, quan hệ gia đình lỏng lẻo, tranh chấp tài sản giữa anh em ruột thịt,... Trước những hiện tượng xã hội tiêu cực đó, nhiều người tỏ ra bi quan. Có người cho rằng xã hội ta đang bị rối loạn về giá trị và chuẩn mực xã hội. Người khác thì nói luân lý, đạo đức gia đình Việt Nam đang xuống cấp. Những người khác nữa lại tỏ ra tiếc nuối và hoài nhớ về những êm đẹp trong gia đình của một thời đã qua.

Vậy, trong thực tế, hệ giá trị gia đình Việt Nam đang vận hành và biến đổi ra sao? Những nguyên nhân xã hội nào chi phối sự vận hành ấy? Và, chúng ta cần làm gì để hệ giá trị gia đình Việt Nam đáp ứng được những đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn hiện đại hóa? Đây là những câu hỏi cấp thiết, không chỉ tồn tại trong dư luận xã hội, mà ít nhiều còn được phản ánh qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Dựa trên kết quả điều tra xã hội học của đề tài cấp Bộ “Hệ giá trị gia đình Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái Bình)” do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện năm 2014, bài viết này sẽ góp phần nhận diện hệ giá trị đang chi phối sự vận hành của gia đình Việt Nam; chỉ ra đặc điểm và những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành hệ giá trị gia đình Việt Nam hiện nay. Cuộc khảo sát xã hội học được tiến hành tại tỉnh Thái Bình, một tỉnh nông nghiệp tiêu biểu thuộc châu thổ đồng bằng Bắc bộ đang trong quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), có trình độ phát triển và mức sống trung bình so với cả nước. Hai địa phương được chọn khảo sát là xã An Cầu (huyện Quỳnh Phụ), đại diện cho khu vực nông thôn và phường Đề Thám, đại diện cho khu vực thành phố của tỉnh Thái Bình. Tại các địa bàn khảo sát (ở cả nông thôn và đô thị), sự phát triển kinh tế đã làm thay đổi đáng kể chất lượng cuộc sống của người dân so với thời bao cấp trước đây. Đại bộ phận các hộ gia đình đều có nhà ở, có chỗ ở riêng (trong đó, 77,8% nhà kiên cố, 19,9% nhà bán kiên cố, chỉ có 2,6% chưa có nhà ở  riêng); 100% hộ gia đình sử dụng thiết bị sinh hoạt hiện đại như như nồi cơm điện, tivi, điện thoại di động, bếp ga, xe máy, nhà vệ sinh tự hoại, tủ lạnh, bình nóng lạnh, máy giặt, máy vi tính/internet,... (trong đó, 63,8% hộ gia đình có từ 4 thiết bị hiện đại trở xuống và 36,2% số hộ gia đình có từ 5 thiết bị hiện đại trở lên).

Một khía cạnh khác của cuộc sống là ăn uống và trang phục cũng thay đổi đáng kể so với thời kỳ bao cấp trước đây. Số liệu khảo sát cho thấy, về ăn uống: 85,8% các hộ gia đình “ăn uống đầy đủ”, 6,6% ở cấp độ “ăn ngon”, chỉ có 7,1% “ăn uống còn kham khổ”. Về trang phục: 4,3% hộ gia đình "ăn mặc hợp thời trang"; 46,6% hộ gia đình ăn mặc “đẹp, lịch sự”;  47,5% “đủ lành, đủ ấm”; chỉ có 1,6% “còn thiếu thốn”.

Cùng với sự phát triển kinh tế, các tổ chức xã hội, các nghi lễ và hoạt động văn hóa cũng được khôi phục như ma chay, cưới xin, đi chùa, xây chùa, xây mộ tổ, xây nhà thờ họ, họp họ, các lễ hội truyền thống của địa phương,… Ngoài việc khôi phục, tô đậm thêm các nghi lễ văn hóa truyền thống, những giá trị văn hóa mới như bình đẳng giới, quyền trẻ em, gia đình văn hóa, làng xã văn hóa mới, phát huy dân chủ ở cơ sở,... cũng thường xuyên được chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương phổ biến trực tiếp đến người dân hoặc gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng.

Những thay đổi này có ảnh hưởng như thế nào đến sự lựa chọn giá trị của gia đình? Nói cách khác, gia đình Việt Nam (trường hợp tỉnh Thái Bình) hiện đang sống với những giá trị nào? Trong bối cảnh xã hội đang chuyển đổi với việc tồn tại đan xen giữa giá trị cổ truyền với các giá trị hiện đại và hậu hiện đại; giữa giá trị sinh tồn với các giá trị chất lượng cuộc sống, gia đình Việt Nam ưu tiên lựa chọn giá trị nào? Vì sao một số giá trị được ưu tiên lựa chọn nhiều hơn so với một số giá trị khác? Sự lựa chọn đó có ý nghĩa như thế nào đối với sự vận hành và phát triển của gia đình Việt Nam hiện nay?

2. Các giá trị gia đình được lựa chọn

Cuộc khảo sát nghiên cứu sự lựa chọn giá trị trên ba lĩnh vực cơ bản: 1) Đời sống kinh tế - vật chất và thể chất của gia đình; 2) Quan hệ xã hội của gia đình; 3) Đời sống tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng của gia đình. Trong mỗi một lĩnh vực như vậy, nghiên cứu đưa ra 10 yếu tố tương ứng với 10 giá trị và người trả lời được yêu cầu chọn 6 yếu tố/giá trị mà họ cho là quan trọng hơn. Các giá trị được nghiên cứu bao gồm cả giá trị truyền thống lâu đời và các giá trị mới xuất hiện trong gia đình Việt Nam. Mục đích nghiên cứu là tìm hiểu xem trong đời sống gia đình hiện nay, các giá trị truyền thống và hiện đại được duy trì và tiếp thu ở mức độ nào; loại giá trị nào được ưu tiên lựa chọn nhiều hơn, tại sao? Các giá trị trong mỗi lĩnh vực cụ thể như sau:

- Các giá trị thuộc lĩnh vực kinh tế - vật chất và thể chất, bao gồm: ăn ngon mặc đẹp; có nhà ở, chỗ ở riêng; đủ tiện nghi sinh hoạt; có việc làm, thu nhập ổn định; có việc làm theo sở thích; sở hữu phương tiện đi lại; khỏe mạnh; trường thọ; có tài sản để dành; sống trong môi trường tự nhiên ôn hòa, không ô nhiễm.

- Các giá trị trong quan hệ xã hội bao gồm: vợ chồng chung thủy; có con trai, con gái đầy đủ; anh em hòa thuận; cha mẹ nhân từ, con cháu hiếu thảo; mọi người có trách nhiệm với nhau; bình đẳng giữa nam và nữ, giữa già và trẻ; ông bà, cha mẹ sống cùng con cháu; có uy tín trong cộng đồng; quan hệ họ hàng, láng giềng tốt; môi trường xã hội, an ninh bảo đảm.

- Các giá trị trong lĩnh vực đời sống tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng bao gồm: tôn trọng lễ giáo; hiếu kính với tổ tiên; con cái chăm ngoan, học hành tấn tới; có con trai nối dõi tông đường; ăn ở hiền lành để phúc cho con cháu; tâm hồn thanh thản, nhẹ nhõm; cởi mở, sẵn sàng đón nhận cái mới; có điều kiện nghỉ ngơi, thư giãn; tự do tín ngưỡng.

Dưới đây là kết quả khảo sát về sự lựa chọn giá trị gia đình trên từng lĩnh vực.

2.1. Giá trị kinh tế - vật chất và thể chất

Bảng giá trị kinh tế - vật chất và thể chất của gia đình có thể tạm thời phân chia thành ba nhóm: 1) Nhóm giá trị kinh tế - vật chất đáp ứng các nhu cầu sống cơ bản và an ninh kinh tế (nhà ở, việc làm, thu nhập, tiện nghi sinh hoạt, môi trường tự nhiên, phương tiện đi lại, tài sản để dành); 2) Nhóm giá trị kinh tế - vật chất liên quan đến chất lượng cuộc sống (ăn ngon, mặc đẹp, có việc làm theo sở thích); 3) Nhóm giá trị về thể chất (khỏe mạnh, trường thọ). Bảng 1 cho thấy thứ tự ưu tiên lựa chọn các giá trị gia đình thuộc lĩnh vực kinh tế - vật chất và thể chất của người dân tại địa bàn nghiên cứu.

Bảng 1: Sự lựa chọn giá trị gia đình trong lĩnh vực kinh tế - vật chất và thể chất

 xếp theo thứ tự ưu tiên của người trả lời (%)

TT

Các giá trị

Tỉ lệ lựa chọn (%)

N

1

Khỏe mạnh

99,3

580

2

Có việc làm/thu nhập ổn định

89,5

580

3

Có nhà ở/chỗ ở riêng

87,8

580

4

Đủ tiện nghi sinh hoạt

80,3

580

5

Môi trường tự nhiên ôn hòa/không ô nhiễm

79,1

580

6

Sở hữu phương tiện đi lại

39,1

580

7

Trường thọ

39,0

580

8

Có tài sản để dành

31,9

580

9

Ăn ngon mặc đẹp

29,1

580

10

Có việc làm theo sở thích

22,8

580

 

      Bảng trên cho thấy “khỏe mạnh” đứng ở vị trí thứ nhất trong thứ tự các giá trị được người trả lời ưu tiên lựa chọn (99,3%). Đúng như người ta nói, sức khỏe là vốn quý nhất của con người. Có sức khỏe là có tất cả, không có sức khỏe là không có gì cả.

Ưu tiên lựa chọn tiếp theo là nhóm các giá trị có liên quan đến sự sinh tồn của từng cá nhân và gia đình. Đó là có việc làm/thu nhập ổn định, có nhà ở/chỗ ở riêng, có đủ tiện nghi sinh hoạt, môi trường tự nhiên ôn hòa/không ô nhiễm, sở hữu phương tiện đi lại. Như trên chúng tôi đã nói, Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp điển hình của nông thôn Việt Nam đang trong quá trình CNH và HĐH, có trình độ phát triển trung bình và mức sống trung bình so với cả nước. Việt Nam cũng là một quốc gia đang phát triển mới bước vào ngưỡng cửa của những nước có thu nhập trung bình. Trong bối cảnh như vậy, việc thỏa mãn các nhu cầu sống cơ bản vẫn tiếp tục là mục tiêu hướng tới của đại bộ phận người dân. Điều này không có nghĩa là ở những nước CNH phát triển và giàu có thì các giá trị sinh tồn bị mất đi. Con người ở mọi nơi trên trái đất này đều coi trọng các giá trị vật chất, nhưng sự khác biệt là ở chỗ, trong khi các xã hội CNH nhấn mạnh đến các giá trị về an ninh kinh tế vật chất thì các xã hội hậu CNH lại ưu tiên các giá trị về chất lượng cuộc sống và sự thể hiện bản thân. Tại địa bàn nghiên cứu, các giá trị sinh tồn đáp ứng nhu cầu sống cơ bản của gia đình có tỉ lệ ưu tiên lựa chọn cao cho thấy lý thuyết hiện đại hóa đã đúng khi khẳng định rằng, CNH là xu thế tất yếu của những nước kém phát triển và đang phát triển vượt qua đói nghèo, lạc hậu để trở thành nước văn minh và giàu có, và mục tiêu chủ yếu của các xã hội CNH là tăng trưởng kinh tế; trong đó, chiến lược của quốc gia là ưu tiên tăng trưởng tối đa GDP còn chiến lược sống của các cá nhân và gia đình ưu tiên tăng trưởng tối đa về thu nhập.

Để tối đa hóa thu nhập thì trước tiên cần phải có việc làm tạo ra thu nhập. Không phải ngẫu nhiên, giá trị “có việc làm/thu nhập ổn định” được người dân ưu tiên ở vị trí thứ hai trong bảng giá trị gia đình về lĩnh vực kinh tế - vật chất và thể chất (chỉ sau giá trị “khỏe mạnh”). Mức độ ưu tiên lựa chọn các giá trị sinh tồn thể hiện ở bảng 1 phản ánh tính thực tế, thứ tự về mức độ cần thiết và quan trọng của các yếu tố bảo đảm sự sống còn. Để tồn tại, trước hết họ cần phải có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, tiếp theo là các phương tiện và điều kiện sống thiết yếu không thể không có như nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, môi trường tự nhiên ôn hòa, không ô nhiễm, cuối cùng là phương tiện đi lại. Trong bảng giá trị này, yếu tố “môi trường tự nhiên ôn hòa/không ô nhiễm” có tỉ lệ ưu tiên lựa chọn khá cao (79,1%). Có nhiều lí do để lý giải cho sự lựa chọn này. Trước hết, Việt Nam ở khu vực nhiệt đới gió mùa, thời tiết, khí hậu biến đổi thất thường, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia được cảnh báo và trên thực tế là nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu. Trong lịch sử cũng như hiện tại, tai họa thiên nhiên như hạn hán, bão lũ, triều cường,… đã gây ra cho chúng ta rất nhiểu tổn thất về người và của. Mặt khác, ô nhiễm môi trường trong quá trình CNH và HĐH đã trở thành một vấn đề xã hội vô cùng bức xúc ở đất nước ta. Rác thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải từ các cơ sở sản xuất thủ công, chăn nuôi, chế biến lương thực, thực phẩm, chất thải y tế độc hại không được xử lý xả vào không khí, đất, nguồn nước, thậm chí rác thải công nghiệp từ những nước phát triển được nhập khẩu trái phép vào Việt Nam… đe dọa trực tiếp sức khỏe, tính mạng, sự an toàn cuộc sống của người dân. Việc người dân đề cao giá trị “môi trường tự nhiên ôn hòa/không ô nhiễm” cho thấy, trên thực tế và trong tâm thức của người dân, môi trường tự nhiên có liên quan trực tiếp đến sự sống còn của họ.

Hơn một phần ba ý kiến được hỏi (31,9%) ưu tiên lựa chọn giá trị “có tài sản để dành”. Tài sản để dành hay của cải được tích lũy, tiền tiết kiệm cũng là một giá trị thuộc nhóm kinh tế - vật chất bảo đảm sự sống còn và an ninh kinh tế của gia đình trong những thời khắc khó khăn, những rủi ro bất thường như tai họa thiên nhiên, tai nạn, ốm đau, bệnh tật, tuổi già; hoặc để giải quyết những công việc trọng đại của gia đình như làm nhà, đầu tư cho con đi học, cưới vợ gả chồng cho con, đầu tư cho sản xuất kinh doanh,... Tỉ lệ lựa chọn giá trị “có tài sản để dành” thấp hơn rất nhiều so với các giá trị sống còn khác cho thấy mức sống của người dân còn thấp, thu nhập của nhiều hộ gia đình chỉ mới đủ trang trải cho ăn mặc, chi tiêu hàng ngày và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt tối thiểu. Nhiều gia đình còn chưa dám mơ ước đến việc tích lũy tài sản cho tương lai hay như người ta nói là “có của ăn của để”. Một gia đình hay một quốc gia có ít tiền của dự trữ là gia đình nghèo và quốc gia nghèo.

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế luôn đi kèm với hiện tượng xã hội có tính quy luật là phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo. Sự phân tầng và phân hóa này làm cho một bộ phận trong các cộng đồng dân cư có cơ hội thoát ra khỏi tình trạng nghèo khổ. Nói cách khác, bộ phận dân cư đó vượt qua các giá trị tất yếu của sự sinh tồn, hướng tới những giá trị về chất lượng cuộc sống. Tại các địa bàn điều tra của tỉnh Thái Bình, bên cạnh sự ưu tiên lựa chọn rất cao đối với các giá trị bảo đảm sự sinh tồn, đã có một tỉ lệ khoảng từ 20 đến 30% ý kiến được hỏi ưu tiên lựa chọn giá trị liên quan đến nâng cao chất lượng cuộc sống. Cụ thể, 29,1% ưu tiên lựa chọn giá trị “ăn ngon mặc đẹp” và 22,8% ưu tiên lựa chọn giá trị “có việc làm theo sở thích” (bảng 1).

Ở thời kỳ bao cấp trước đây, do sự thiếu thốn lương thực, thực phẩm và khan hiếm hàng tiêu dùng, người ta chỉ mong sao đủ ăn đủ mặc. Con người lúc đó chỉ ước mơ được “ăn no mặc ấm” chứ ít ai nghĩ đến “ăn ngon mặc đẹp”. Vả lại trong chế độ quan liêu bao cấp, khi cái khổ chia đều cho đại bộ phận người dân, lâu dần hình thành nên “tâm lý cào bằng”, tương tự như câu thành ngữ “xấu đều hơn tốt lỏi”. Trạng thái tâm lý này làm cho người ta không dễ chấp nhận và cũng không muốn ai được “ăn sung mặc sướng” hơn người khác trong khi phần lớn người dân còn đang sống trong thiếu thốn. Gần 1/3 số người được hỏi ý kiến ưu tiên lựa chọn giá trị “ăn ngon mặc đẹp” cho thấy ngày nay, người dân đã không còn an phận với cái nghèo. Chính nền kinh tế thị trường đã xóa bỏ tâm lý cào bằng, tạo động lực cho cá nhân vượt qua đói nghèo, vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Trong hoàn cảnh mới, con người không chỉ phấn đấu để thỏa mãn các nhu cầu sống cơ bản mà còn hướng tới những giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống. Ý kiến của người dân qua các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tại địa bàn nghiên cứu đã làm rõ thêm thực tế này.

Một cán bộ lãnh đạo xã An Cầu đã sống ở cả hai thời kỳ bao cấp và mở cửa nhận xét:

“Thời bao cấp thì cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc cho nên người ta chỉ lo được ăn no mặc ấm, thế nhưng bây giờ người ta đạt được cái đó rồi thì người ta lại nghĩ đến là ăn ngon mặc đẹp. Bữa ăn bây giờ không chỉ cần đủ số lượng mà còn cần phải ăn uống hợp vệ sinh, rồi hợp khẩu vị, rồi phải an toàn thực phẩm nữa, tức là người ta cần ăn no nhưng cũng cần cả ăn ngon” (thảo luận nhóm (TLN), nam, 52 tuổi, cán bộ xã An Cầu).

Về ăn mặc và trang điểm đối với phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ trẻ đã có nhiều khác biệt so với thời bao cấp trước đây:

“Trước kia chị em ra đường là không dám mặc cái quần áo đẹp, quần áo mới thì cứ mặc ở nhà cho cũ đi rồi đi đâu mới dám mặc. Bây giờ thì quần áo đẹp rất nhiều lại nhiều màu sắc mà lại muốn dùng hàng mốt, hàng hiệu. Trước kia thì ngại cái việc trang điểm. Nếu trang điểm thì cứ nghĩ là đi làm việc xấu. Hiện nay thì phụ nữ nhận thức khác đi. Nếu đi họp, hội nghị hay đám cưới là có trang điểm, biết làm đẹp cho mình” (TLN, nữ, 40 tuổi, cán bộ xã An Cầu).

Tại phường Đề Thám, sự thay đổi trong việc ăn mặc, đi lại cũng được miêu tả rất rõ:

“Trong cơ chế bao cấp, các gia đình lo bữa ăn thì rất khó khăn, nhưng bây giờ bữa ăn của người dân đô thị là nhiều và đầy đủ chất dinh dưỡng như là thịt, cá, tôm, rau củ quả các loại. Chất lượng bữa ăn đã được cải thiện trong đời sống. Đấy là về chế độ ăn uống. Còn về mặc thì bây giờ người ta có rất nhiều những cái theo thời trang. Nếu các anh quan sát cái dãy phố Trần Hưng Đạo của phường Đề Thám thì sẽ thấy các cửa hàng thời trang rất nhiều, phát triển rất nhanh, rất đa dạng các mặt hàng, rất nhiều nhãn hiệu như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản, cả của các nước Châu Âu nữa” (Nữ, 35 tuổi, cán bộ phường Đề Thám).

Những trích dẫn trên đây cho thấy chất lượng bữa ăn và yếu tố thẩm mỹ trong trang phục đã trở thành một giá trị có xu hướng được coi trọng trong đời sống của người dân và của các hộ gia đình hiện nay. Mặc dù chỉ có 22,8% số người được hỏi ưu tiên lựa chọn giá trị “có việc làm theo sở thích” chiếm tỉ lệ thấp nhất trong 10 giá trị thuộc lĩnh vực kinh tế - vật chất, thể chất của gia đình (bảng 1), nhưng đây là một mong muốn và khát vọng rất đáng trân trọng của người dân trong hoàn cảnh xã hội đang phải lo toan vật lộn với sự sinh tồn. Có việc làm theo sở thích là ước mong của tất cả những người lao động, đặc biệt là học sinh, sinh viên. Đó cũng là điều kiện tiên quyết để người lao động có thể phát huy và cống hiến được năng lực chuyên môn nghề nghiệp của mình cho sự phát triển của xã hội.

2.2. Giá trị trong các mối quan hệ xã hội của gia đình

Các mối quan hệ xã hội của gia đình bao gồm: quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em, giữa gia đình với họ hàng, cộng đồng và xã hội. Bảng 2 cho thấy thứ tự ưu tiên lựa chọn giá trị trong lĩnh vực quan hệ xã hội của gia đình tại các địa bàn nghiên cứu ở tỉnh Thái Bình.

Bảng 2: Sự lựa chọn giá trị trong lĩnh vực quan hệ xã hội của gia đình

xếp theo thứ tự ưu tiên của người trả lời (%)

TT

Các giá trị

Tỉ lệ lựa chọn (%)

N

1

Vợ chồng chung thủy

96,0

580

2

Anh em hòa thuận

87,6

580

3

Cha mẹ nhân từ, con cháu hiếu thảo

84,5

580

4

Mọi người có trách nhiệm với nhau

64,3

580

5

Quan hệ họ hàng, láng giềng tốt

61,2

580

6

Môi trường xã hội, an ninh đảm bảo

58,6

580

7

Bình đẳng (nam - nữ, già - trẻ)

51,6

580

8

Có con trai, con gái đầy đủ

42,9

580

9

Có uy tín trong cộng đồng (làng xóm, khu dân cư,…)

29,1

580

10

Ông bà, cha mẹ sống chung với con cháu

24,1

580

 

Có sự phân hóa về mức độ ưu tiên lựa chọn đối với các giá trị truyền thống của gia đình. Một số giá trị truyền thống vẫn tiếp tục được ưu tiên lựa chọn với tỉ lệ cao như vợ chồng chung thủy, anh em hòa thuận, cha mẹ nhân từ, con cháu hiếu thảo; trong khi các giá trị truyền thống khác: có uy tín trong cộng đồng, có con trai, con gái đầy đủ, ông bà, cha mẹ sống chung với con cháu lại có mức độ ưu tiên lựa chọn thấp hơn. Các giá trị hiện đại như bình đẳng (nam - nữ, già - trẻ), môi trường xã hội an ninh đảm bảo có tỉ lệ ưu tiên lựa chọn ở mức trung bình. Các giá trị khác: mọi người có trách nhiệm với nhau, quan hệ họ hàng, láng giềng tốt được ưu tiên lựa chọn ở mức trên trung bình.

Sự khác biệt rõ ràng nhất về mức độ ưu tiên là giá trị “vợ chồng chung thủy” và giá trị “ông bà, cha mẹ sống chung với con cháu”. Trong khi giá trị đầu ở vị trí số 1 thì giá trị sau ở vị trí cuối trong số 10 giá trị được thăm dò (bảng 2). Trong gia đình Việt Nam truyền thống, cả hai giá trị này đều đặc biệt được coi trọng vì nó là cốt lõi trong cấu trúc văn hóa của gia đình truyền thống. Quan hệ vợ chồng là đặc trưng cho mối quan hệ gia đình theo chiều ngang, còn quan hệ ông bà - cha mẹ - con cháu là đặc trưng của mối quan hệ gia đình theo chiều dọc. Hơn nữa, trong truyền thống, quan hệ theo chiều dọc còn được coi trọng hơn quan hệ theo chiều ngang, chi phối và quyết định các mối quan hệ theo chiều ngang, thể hiện ở sự sắp đặt hôn nhân của cha mẹ đối với con cái, đề cao lòng hiếu thảo của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Đông con nhiều cháu, ông bà, cha mẹ, con cháu cùng chung sống quây quần dưới một mái nhà (tam tứ đại đồng đường) là hình ảnh lý tưởng của gia đình xưa. Con người từ lúc được sinh ra cho đến khi rời bỏ nhân thế đều sống trong gia đình. Lúc nhỏ tuổi được cha mẹ nuôi dưỡng, lúc trưởng thành họ nuôi dưỡng cha mẹ già và khi về già họ lại được con cháu nuôi dưỡng, chăm sóc. Vòng quay này hầu như là một quy luật, không thay đổi đối với mỗi kiếp người trong xã hội nông nghiệp cổ truyền. Sự sống sót của trẻ em sẽ bị đe dọa nếu chúng không được cha mẹ nuôi dưỡng. Người già cần được con cháu nuôi dưỡng khi không còn khả năng lao động. Trong nền kinh tế tự cấp tự túc đó, tất cả mọi người sống phụ thuộc lẫn nhau. Tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh cho nhau là cơ sở bảo đảm sự sống còn của gia đình.

Việc giảm bớt tầm quan trọng của giá trị “ông bà, cha mẹ sống chung với con cháu” có nguyên nhân từ những biến đổi kinh tế - xã hội. Gia đình vốn là đơn vị kinh tế then chốt trong xã hội cổ truyền, nhưng trong xã hội công nghiệp, cuộc sống lao động của con người chủ yếu diễn ra bên ngoài gia đình. Hơn nữa, nhà nước phúc lợi đã hình thành, có trách nhiệm bảo đảm vấn đề sinh tồn cho tất cả công dân. Trước đây, trẻ em sống hoặc chết hoàn toàn phụ thuộc vào việc chúng có được cha mẹ nuôi dưỡng hay không và sự sống của cha mẹ khi về già phụ thuộc vào con cái họ. Ngày nay, mặc dù gia đình vẫn quan trọng nhưng nó không còn là mối quan hệ giữa sống hay chết, vai trò của nó đã được nhà nước phúc lợi thay thế nhiều. Thế hệ mới có thể sống nếu gia đình tan vỡ, hoặc thậm chí ngay cả khi không có bố hoặc mẹ bên cạnh. Tương tự như vậy, người già có thể duy trì cuộc sống của mình không phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng của con cháu. Bên cạnh đó, sự xuất hiện các nhân tố mới như di cư lao động, tôn trọng tự do cá nhân, sự độc lập về kinh tế giữa bố mẹ và con cái,…  trong đời sống gia đình hiện đại cũng góp phần làm chuyển dịch từ gia đình lớn nhiều thế hệ (ông bà - cha mẹ - con cháu) sang gia đình nhỏ (một hoặc hai thế hệ).

Tại địa bàn nghiên cứu, ở cả nông thôn và đô thị, nguyện vọng sống riêng là rất phổ biến. Không chỉ lớp trẻ mà cả người cao tuổi cũng muốn có cuộc sống riêng tư, độc lập. Một số trích đoạn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm dưới đây đã phản ánh nguyện vọng đó:

“Như bố mẹ em thì thích sống riêng, ăn riêng bởi vì mỗi thế hệ có cách suy nghĩ khác nhau, rồi sinh hoạt cũng không giống nhau. Cứ để bố mẹ ăn riêng cho nó tự do. Bố mẹ nấu bố mẹ ăn trước, mà con cái thì đi làm về muộn không ai chờ ai được. Gọi là sống riêng ăn riêng thôi chứ vẫn ở gần”  (PVS, nữ, nông dân, 40 tuổi, xã An Cầu).

“Sống chung sống riêng là nguyện vọng của cả hai thế hệ anh ạ. Các cụ là cũng không muốn sống chung với con cháu mà con cháu cũng không muốn sống chung với các cụ đâu. Nó là do cái suy nghĩ của hai thế hệ khác nhau. Bây giờ công việc nó nhiều, con cái đi làm về thì rất muộn, mà các cụ ví dụ đến giờ là phải ăn, ăn rất sớm có thể là từ 6 giờ sau đó nghỉ ngơi, xem thời sự xong là đi ngủ, nhưng con cái thì thậm chí có thể đi làm đến 8 giờ tối mới về. Thế rồi sống chung nó có nhiều tiếng ồn, các cụ thì cần yên tĩnh,… Tất cả những cái đó đều không hợp về sinh hoạt. Con cái thì thích tự do, mà sống với bố mẹ thì nhiều cái phải phụ thuộc theo những cái nết của bố mẹ cũng không đáp ứng được, mà kéo dài thời gian không đáp ứng được thì dẫn đến xung đột nên là để mà giữ cái mối quan hệ thì tốt nhất là sống riêng ra, đến khi nào các cụ không thể tự phục vụ được bản thân thì mới cần ở chung với con cháu. Chính các cụ cũng suy nghĩ như thế, cho nên nhiều khi em nghĩ là mình không phải áp cái khuôn mẫu ngày xưa được mà mình phải chấp nhận cái thay đổi hiện nay, bản thân mình cũng phải nhìn thấy như thế và chấp nhận”  (TLN, nữ, 38 tuổi, cán bộ phường Đề Thám).

Trong xã hội hiện đại, gia đình không còn là đơn vị kinh tế khép kín, các thành viên trưởng thành có thu nhập độc lập, trẻ em vẫn có thể được nuôi dưỡng bởi người bố hoặc người mẹ khi hôn nhân tan vỡ. Những thay đổi này cho thấy, giá trị về sự chung thủy vợ chồng về cơ bản không còn mang nhiều ý nghĩa bảo đảm sự sinh tồn của gia đình mà chuyển sang ý nghĩa về sự thỏa mãn nhu cầu tâm lý - tình cảm của các cá nhân. Hôn nhân đã chuyển từ thể chế kinh tế sang thể chế tâm lý. Nói cách khác, trước đây chung thủy là vì sự sống còn của gia đình thì ngày nay chung thủy là vì sự sống còn của tình yêu. Hôn nhân hiện đại là dựa trên tình yêu, thì chỉ có tình yêu mới có thể duy trì được cuộc hôn nhân đó. Tình yêu có ưu điểm lớn là sự tự nguyện, nhưng nó cũng có khuyết điểm lớn là rất dễ bị tổn thương. Khi yêu, người ta mong muốn tình yêu được đáp lại và không muốn chia sẻ tình cảm với người nào khác. Tuy nhiên, duy trì tình yêu trong hôn nhân lại là một thách thức rất lớn. Tình yêu là thứ tình cảm lãng mạn, trong khi đời sống vợ chồng luôn phải đối mặt với cơm áo gạo tiền và rất nhiều nghĩa vụ, trách nhiệm khác, có nguy cơ làm suy giảm tình yêu. Chung thủy không đồng nghĩa với tình yêu, nó vừa là tình yêu vừa còn là một khái niệm mang tính đạo đức và ẩn chứa trách nhiệm của mỗi người với người bạn đời và cuộc hôn nhân của mình. Nó cũng là cứu cánh để duy trì tình yêu sau hôn nhân. Điều này giải thích vì sao cả trong truyền thống và hiện đại, chung thủy vợ chồng luôn là giá trị được đề cao trong đời sống gia đình. Khi giá trị truyền thống tồn tại trong gia đình hiện đại thì đó là tính liên tục của văn hóa gia đình, và giá trị đó phải được coi là giá trị trong cấu trúc của gia đình hiện đại (cho dù nó bắt nguồn từ trong truyền thống). “Vợ chồng chung thủy” chính là một giá trị vượt thời gian.

Gia đình Việt Nam hiện nay có thể coi là một hình thái quá độ từ truyền thống sang hiện đại. Đặc điểm này làm cho sự lựa chọn giá trị cũng mang tính “quá độ”. Tại địa bàn nghiên cứu, lí do mà người dân đưa ra về việc đề cao giá trị vợ chồng chung thủy vừa thể hiện khát vọng duy trì tình yêu vợ chồng, vừa là để bảo đảm sự sống còn của gia đình, tương lai của con cái.

Bên cạnh việc duy trì những giá trị truyền thống ở những mức độ khác nhau, gia đình Việt Nam hiện đại còn có xu hướng tiếp nhận giá trị mới, tiêu biểu nhất là giá trị bình đẳng (nam - nữ, già - trẻ). Tỉ lệ ưu tiên lựa chọn giá trị này ở mức trung bình (51,6%) phản ánh tính chất quá độ trong sự chuyển đổi của gia đình từ truyền thống sang hiện đại. Bình đẳng là một giá trị hiện đại, hơn nữa là một giá trị thuộc về chất lượng cuộc sống. Một xã hội đang chuyển đổi bao giờ cũng đặt ra sự lựa chọn giữa những giá trị sống còn và những giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống. Thông thường, trong các xã hội đang phát triển (trong đó có Việt Nam), những giá trị bảo đảm sự sống còn được ưu tiên hơn các giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống. Tại địa bàn nghiên cứu, trên 50% số người được hỏi ưu tiên lựa chọn giá trị bình đẳng trong các mối quan hệ gia đình, theo chúng tôi là một sự ưu tiên lựa chọn khá cao đối với những giá trị thuộc về chất lượng cuộc sống.

Sự lựa chọn này cho thấy gia đình Việt Nam có khả năng thích ứng với sự thay đổi của thời đại. Nó còn có ý nghĩa trong việc ngăn chặn các hành vi bạo lực của chồng đối với vợ, cha mẹ đối với con con cái; thay đổi tâm lý coi trọng con trai hơn con gái; xóa bỏ khuôn mẫu phân công lao động theo giới trong gia đình; tạo điều kiện giải quyết các vấn đề xã hội về mất cân bằng giới tính khi sinh, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái; thực hiện Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình,... góp phần nâng cao chất lượng các mối quan hệ gia đình.

2.3. Giá trị trong đời sống tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng của gia đình

Bảng giá trị về đời sống tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng của gia đình được nghiên cứu bao gồm cả giá trị truyền thống và giá trị mới. Cũng giống như bảng giá trị về các mối quan hệ gia đình, sự ưu tiên lựa chọn của người trả lời đối với các giá trị truyền thống trong bảng này có sự khác biệt rất rõ nét. Trong khi các giá trị: “hiếu kính với tổ tiên”, “con cái chăm ngoan, học hành tấn tới”, “ăn ở hiền lành để phúc cho con cháu”, “có sự hòa hợp giữa gia đình và cộng đồng” có mức độ ưu tiên lựa chọn cao và rất cao; thì tỉ lệ ưu tiên lựa chọn hai giá trị truyền thống khác là “tôn trọng lễ giáo” và “có con trai nối dõi tông đường” lại thấp hơn đáng kể (bảng 3).

Bảng 3: Sự lựa chọn giá trị trong lĩnh vực đời sống tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng của gia đình xếp theo thứ tự ưu tiên của người trả lời (%)

TT

Các giá trị

Tỉ lệ lựa chọn (%)

N

1

Hiếu kính với tổ tiên

95,2

580

2

Con cái chăm ngoan, học hành tấn tới

92,9

580

3

Ăn ở hiền lành để phúc cho con cháu

89,8

580

4

Có sự hòa hợp giữa gia đình và cộng đồng

77,1

580

5

Tâm hồn thanh thản, nhẹ nhõm

74,8

580

6

Có điều kiện nghỉ ngơi, thư giãn

47,4

580

7

Tôn trọng lễ giáo

39,5

580

8

Cởi mở, sẵn sàng đón nhận cái mới

34,5

580

9

Có con trai nối dõi tông đường

25,0

580

10

Tự do tín ngưỡng

23,3

580

 

     Số liệu ở bảng 3 cho thấy, tỉ lệ ưu tiên lựa chọn cao nhất thuộc về giá trị “hiếu kính với tổ tiên” (95,2%). Trong các gia đình tại địa bàn nghiên cứu, hầu như nhà nào cũng có bàn thờ thờ cúng tổ tiên, cha mẹ và những người thân đã mất. Mỗi họ và các chi họ lại có từ đường hay nhà thờ riêng để thờ tổ tiên chung của họ. Văn hóa thờ cúng tổ tiên chứa đựng rất nhiều ý nghĩa: nhớ ơn sinh thành của tổ tiên, tìm về cội nguồn (con người có tổ có tông), mong tổ tiên ở thế giới bên kia phù hộ độ trì, trợ giúp cho con cháu trên dương thế,... Văn hóa thờ cúng tổ tiên vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp nối trong đời sống gia đình hiện đại.

Giá trị truyền thống có tỉ lệ ưu tiên lựa chọn gần thấp nhất đó là “có con trai nối dõi tông đường” (25%). Sự thay đổi này có lẽ bắt nguồn từ việc tiếp nhận giá trị về bình đẳng, một giá trị nhân văn mới trong quan hệ gia đình, bao gồm bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái, giữa nam và nữ. Khi đã đề cao giá trị bình đẳng thì tâm lý nhất thiết phải có con trai cũng dần thay đổi. Mặt khác, phải kể đến tác động của chính sách dân số. Cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch với các khẩu hiệu: Mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh từ 1-2 con; Dừng lại 2 con để nuôi dạy cho tốt,... đã làm thay đổi đáng kể nhận thức của người dân và của các cặp vợ chồng về sự phân biệt con trai, con gái. Ý kiến của phụ nữ tại cuộc thảo luận nhóm cho thấy rõ hơn về tác động này:

“Bình đẳng là quan trọng lắm chứ. Chẳng hạn như nhà tôi đây có hai con gái, nếu mà tôi thích con trai tôi cứ đẻ tiếp thì làm sao gọi là bình đẳng nam nữ được. Con nào cũng là con, thực hiện đúng chính sách dân số của nhà nước thì mới bình đẳng được” (TLN, nữ, 40 tuổi, nông dân xã An Cầu).

Một giá trị truyền thống khác là “tôn trọng lễ giáo” cũng có xu hướng ít được ưu tiên lựa chọn hơn trong đời sống gia đình hiện đại (39,5%). Lễ giáo trong gia đình hay gia giáo là nếp sống của loại hình gia đình ít nhiều có học trong xã hội xưa. Trong những gia đình này, mỗi thành viên phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc đạo đức trong cách ứng xử làm cho tôn ti trật tự trong gia đình được giữ vững, mọi người phải trên kính dưới nhường, con cháu phải luôn biết lễ phép, ngoan ngoãn, vâng lời cha mẹ, ông bà và những người lớn tuổi; con gái phải giỏi nữ công gia chánh, tề gia nội trợ, rèn luyện tứ đức: Công - Dung - Ngôn - Hạnh; con trai có chí tiến thủ (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ). Các thành viên gia đình phải hành động theo đúng vị trí, vai trò của mình (vợ ra vợ, chồng ra chồng, cha ra cha, con ra con). Đây là loại hình gia đình rất được ngưỡng mộ trong xã hội phong kiến trước đây, nhưng không hoàn toàn phổ biến vì đại bộ phận người dân là không biết chữ Nho, sống đơn giản, dân dã, không có những quy định quá khắt khe trong cách ứng xử giữa các thành viên. Từ góc nhìn hiện đại, gia giáo là gia đình phụ quyền gia trưởng, bất bình đẳng, quyền lực thuộc về đàn ông, coi trọng con trai hơn con gái. Ngày nay, mặc dù người ta vẫn coi trọng lễ giáo trong gia đình nhưng nó không còn được ưu tiên lựa chọn như các giá trị truyền thống khác.

Sự phân hóa về mức độ ưu tiên lựa chọn các giá trị gia đình truyền thống như đã chỉ ra ở trên cho thấy, dường như có một xu hướng là các giá trị cổ truyền có cội nguồn từ văn hóa bản địa của người Việt có tính trường tồn cao hơn rất nhiều so với các giá trị vay mượn từ văn hóa Nho giáo. Các giá trị cổ truyền của văn hóa bản địa dường như xuất phát từ nhu cầu có thực về sự sinh tồn, về mối quan hệ nhân quả trong đời sống con người, tiếp nối như dòng chảy kết nối các thành viên gia đình qua thời gian. Các giá trị vay mượn thường không dễ dàng được văn hóa bản địa dung nạp, đều vấp phải sự phản ứng của văn hóa bản địa và càng khó khăn hơn để trường tồn qua thời gian.

Tại địa bàn nghiên cứu, ý kiến của người dân cho thấy tâm lý quý con trai hơn con gái đang dần được khắc phục do tác động của bình đẳng giới:

“Con trai nối dõi tông đường bây giờ không còn quan trọng nữa. Giờ cái xu thế bình đẳng nó làm cho nam nữ cũng như nhau.Việc lấy thêm vợ để sinh con trai bây giờ đã được giải quyết rồi, pháp luật và đạo đức đều không cho phép. Là con trai hay con gái thì đều bình đẳng như nhau cả” (TLN, nam, xã An Cầu).

“Ngày xưa thì bố mẹ vẫn ưu tiên cho con trai hơn con gái, nhưng đó là thế hệ các cụ, còn bây giờ như nhà em, ngay từ đầu xác định là chỉ sinh hai cháu, dù là trai hay gái đều là con cả. Cháu nào học được thì em đều đầu tư cho ăn học đầy đủ chứ không phân biệt nam nữ gì” (PVS, nữ, 45 tuổi,  nông dân).

Trong các giá trị mới, đáng chú ý là giá trị “có điều kiện nghỉ ngơi, thư giãn” với gần một nửa số người được hỏi ý kiến ưu tiên lựa chọn. Mặc dù phần lớn dân cư tại khu vực điều tra còn nghèo, mức sống chưa cao nhưng người dân đã hướng tới nâng cao đời sống tinh thần. Ngoài các hình thức nghỉ ngơi, thư giãn tại nhà như xem ti vi, nghe đài, xem video, vào mạng internet, đọc sách báo,... người dân còn có các hình thức nghỉ ngơi giải trí khác ở ngoài nhà và ngoài địa phương. Cụ thể, trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra, 73,8% số người được hỏi cho biết họ đã đi thăm người thân, bạn bè ở ngoài huyện, ngoài tỉnh; 50,3% đi tham quan trong nước; 2,5% đi du lịch nước ngoài. Đây là một sự khác biệt hoàn toàn so với truyền thống. Trong xã hội truyền thống, người nông dân Việt Nam hầu như không đi ra khỏi phạm vi làng xã của mình, càng không có thời gian và tiền bạc để đi tham quan, du lịch (kể cả trong nước và nước ngoài).

3. Một số nhận xét và kiến nghị

3.1. Một số nhận xét         

Từ kết quả phân tích ở trên về sự ưu tiên lựa chọn giá trị trong các lĩnh vực của đời sống gia đình (trường hợp tỉnh Thái Bình), có thể rút ra một số nhận xét sau:

 Trong đời sống gia đình có sự tồn tại đan xen giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Tuy nhiên, mức độ ưu tiên lựa chọn giữa các nhóm giá trị là không giống nhau. Các giá trị truyền thống (vợ chồng chung thủy, anh em hòa thuận, cha mẹ nhân từ, con cháu hiếu thảo, hiếu kính với tổ tiên,…) có mức độ ưu tiên lựa chọn cao hơn nhiều so với các giá trị hiện đại (bình đẳng nam nữ, già trẻ, có điều kiện nghỉ ngơi, thư giãn,…).

 Các giá trị sinh tồn, bảo đảm sự sống còn của gia đình (sức khỏe, việc làm, thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt,…) được ưu tiên lựa chọn cao hơn so với các giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống (ăn ngon, mặc đẹp, có việc làm theo sở thích,…).

 Các giá trị tuyền thống có sự khác biệt đáng kể về mức độ ưu tiên lựa chọn. Một số giá trị truyền thống vẫn còn giữ nguyên giá trị, trong khi một số giá trị truyền thống khác giảm giá trị trong đời sống gia đình hiện đại. Các giá trị truyền thống có nguồn gốc từ văn hóa bản địa (vợ chồng chung thủy, anh em hòa thuận, hiếu kính với tổ tiên,…) có sức sống trường tồn hơn so với các giá trị truyền thống được vay mượn từ Nho giáo (tôn trọng lễ giáo, có con trai nối dõi tông đường,…).

 Sự vận hành và biến đổi của hệ giá trị gia đình Việt Nam hiện nay, cố nhiên, cũng đang tác động đến gia đình và xã hội cả trên hai phương diện tích cực và tiêu cực. Về mặt tích cực, sự vận hành và biến đổi đó chứng tỏ gia đình Việt Nam là một thiết chế mềm dẻo và linh hoạt, có khả năng thích ứng trong những điều kiện và hoàn cảnh mới, đời sống gia đình ngày càng dân chủ hơn, quyền tự do cá nhân, trong đó có cả quyền trẻ em cũng ngày càng đảm bảo hơn. Đây không chỉ là vấn đề sống còn, mà còn là sự hướng tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống ở các xã hội hiện đại hóa và hậu hiện đại hóa. Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề là ở chỗ, trong quá trình vận hành và biến đổi đó, tôn ti trật tự gia đình ít nhiều bị đảo lộn, tỉ lệ ly thân, ly hôn đều tăng, lễ giáo trong gia đình, họ tộc giảm, hiện tượng chạy theo các giá trị vật chất cũng đang xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống xã hội,... Cố nhiên, đấy là những biểu hiện không tránh khỏi trong một xã hội đang chuyển đổi. Nhưng để cho hệ giá trị gia đình có thể vận hành theo đúng những gì mà xã hội mong đợi, chúng ta cần có những giải pháp.

3.2. Kiến nghị

     Trước tình trạng như vừa nêu, kiến nghị đầu tiên của chúng tôi là các cơ quan chức năng, mà trước hết là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cần phải xây dựng và đưa ra được một bộ tiêu chuẩn với tư cách là mẫu số chung cho việc xây dựng hệ giá trị và chuẩn mực gia đình trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, trong đó phản ánh được xu thế và nguyện vọng của đại đa số các nhóm xã hội khác nhau (bộ tiêu chuẩn này vừa phải có nội hàm sâu sắc hơn, đồng thời cũng phải có ngoại diên phong phú hơn so với các tiêu chí của gia đình văn hóa hiện nay). Cùng với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan chức năng khác như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, các cơ quan truyền thông cũng có trách nhiệm phổ biến, truyền bá sâu rộng bộ tiêu chuẩn này. Chỉ có như vậy, việc tiếp xúc và tiếp thu văn hóa, trong đó có hệ giá trị gia đình, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay mới có thể góp phần vào việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” như Nghị quyết của Đảng ta đã nêu ra.

 Cuộc nghiên cứu của chúng tôi đã phát hiện ra rằng trước khi chịu ảnh hưởng của hình thái gia đình theo Nho giáo thì gia đình Việt Nam được hình thành trên cơ sở cơ tầng văn hóa Đông Nam Á, đã tồn tại và vận hành theo hệ giá trị riêng của mình. Trong các kiểu loại gia đình đó, quan hệ giữa vợ và chồng là thứ quan hệ “thuận vợ thuận chồng”; quan hệ giữa cha mẹ và con cái là “Trẻ cậy cha, già cậy con”; còn quan hệ giữa anh chị em là “Chị ngã em nâng”;... Dù các quan niệm về gia đình vừa nêu còn khá hồn nhiên và chất phác, lại rất gần gũi với thế giới tự nhiên nguyên sơ, nhưng rõ ràng ở đây chúng ta ít tìm thấy dấu vết của tư tưởng bất bình đẳng giới, bất bình đẳng thế hệ, hạn chế tự do cá nhân hay tôn ti trật tự, thứ bậc trong gia đình Nho giáo. Thậm chí, ở kiểu loại gia đình trước khi chịu ảnh hưởng hoặc không chịu ảnh hưởng của Nho giáo, vai trò của người phụ nữ còn luôn được đề cao: “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng”; hơn thế, người ta còn coi giá trị tinh thần còn cao hơn cả sự phân biệt về giới tính: “Nam mà chi, nữ mà chi/Con nào có nghĩa có nghì là hơn”. Chính những giá trị gia đình có cội nguồn từ văn hóa bản địa này đã góp phần tạo ra bản sắc và sức sống trường tồn của gia đình Việt Nam, văn hóa Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử, mà không bị đồng hóa trước các giá trị của Nho giáo, cũng như các giá trị của văn hóa và văn minh phương Tây về sau này. Ngày nay, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, các giá trị cội nguồn này vẫn được các gia đình ở cả hai khu vực nông thôn và đô thị ưu tiên lựa chọn với tỉ lệ rất cao. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là không ít người đã coi gia đình Việt Nam truyền thống chỉ có một hình thái duy nhất là hình thái gia đình phụ quyền gia trưởng ảnh hưởng Nho giáo. Thực ra, vấn đề đặt ra không đơn giản như vậy. Những phát hiện và nhận định trên của chúng tôi, dẫu sao cũng mới là những kết quả nghiên cứu bước đầu, hay nói chính xác hơn, nó chỉ mới được gợi ra như một giả thuyết để làm việc. Giả thuyết này cần được nghiên cứu thấu đáo hơn, với sự hỗ trợ của nhiều nguồn tư liệu lịch sử, cũng như mở rộng việc điều tra thực nghiệm trên một phạm vi rộng lớn hơn.

 

 



* PGS.TS.; Viện Nghiờn cứu Gia đỡnh và Giới, Viện Hàn lõm Khoa học Xó hội Việt Nam.

 

Lê Ngọc Văn