Bình đẳng giới ở Việt Nam qua các chỉ số trong báo cáo phát triển con người

16/03/2020

BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM QUA CÁC CHỈ SỐ

TRONG BÁO CÁO PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

VŨ THỊ THANH*

 

Đặt vấn đề

Bình đẳng giới là vấn đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm trong những thập niên gần đây. Bình đẳng giới được hiểu là việc đảm bảo những điều kiện, cơ hội ngang nhau để cả nam giới và nữ giới thể hiện và phát huy được khả năng của mình mà không làm triệt tiêu những sự khác biệt tự nhiên giữa hai giới. Việc đảm bảo sự công bằng, bình đẳng về giới vừa là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển con người, vừa là một trong những mục tiêu mà phát triển con người cần hướng tới. Việc xác định phụ nữ và nam giới cùng có các quyền con người như nhau là nguyên tắc mang tính toàn cầu được xác nhận bởi 171 quốc gia trên thế giới tại Hội nghị về quyền con người diễn ra năm 1993. Các chiều cạnh bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới được khẳng định tại Hội nghị về quyền con người năm 1993 đã được Chương trình phát triển của Liên hợp quốc UNDP khái quát lại trong Báo cáo phát triển con người năm 1995 với chủ đề tập trung vào bình đẳng giới, bao gồm: Bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục và y tế; Có cơ hội như nhau trong việc tham gia vào các quyết định kinh tế và chính trị; Được hưởng thành quả như nhau đối với các công việc giống nhau; Được bảo vệ như nhau trước pháp luật; Chống lại tất cả mọi sự phân biệt về giới và bạo lực đối với phụ nữ; Phụ nữ và nam giới có quyền như nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ở nơi làm việc cũng như ở gia đình (UNDP, 1995). Đến Báo cáo phát triển con người năm 1997, UNDP một lần nữa xác nhận vai trò của việc cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới đối với phát triển con người. Báo cáo đã chỉ ra rằng phụ nữ là những người có vai trò đầu tiên trong hộ gia đình và cộng đồng để giảm nghèo và đối mặt với những tác động nghèo. Tuy nhiên, phụ nữ thường không có tiếng nói trong các quyết định ở hộ gia đình, cộng đồng, trên vũ đài quốc gia và thế giới. Bình đẳng giới cần trở thành một phần trong chiến lược giảm nghèo của mỗi quốc gia. Để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới, phương thức mà Báo cáo phát triển con người năm 1997 đưa ra đó là: Tập trung để chấm dứt sự phân biệt chống lại trẻ em gái trong tất cả các lĩnh vực sức khỏe, giáo dục, nuôi dưỡng - khởi nguồn của sự tồn tại bất bình đẳng giới; Trao quyền cho phụ nữ bằng cách đảm bảo quyền như nhau và tiếp cận với đất đai, tài chính, cơ hội việc làm; Tiến hành hơn nữa các hành động nhằm chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ (UNDP, 1997). Báo cáo phát triển con người năm 1997 một lần nữa đưa lại thông điệp mà UNDP đưa ra trong Báo cáo phát triển con người năm 1995, đó là sẽ rất nguy hiểm nếu phát triển không gắn với yếu tố giới; và nếu chiến lược giảm nghèo không gắn với việc trao quyền cho phụ nữ thì sẽ thất bại trong việc trao quyền cho xã hội.

Để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới thì việc đánh giá và quản lý nó là điều rất cần thiết. Bởi vậy, vấn đề đo lường để đánh giá tình trạng bất bình đẳng giới cũng được quan tâm trong các báo cáo phát triển con người của UNDP (đặc biệt là trong Báo cáo phát triển con người năm 1995). Để đánh giá được tình trạng bình đẳng giới, một số chỉ số đã được UNDP xây dựng trong các báo cáo thường niên về phát triển con người từ đầu những năm 1990, bao gồm chỉ số phát triển liên quan đến giới (Gender-related Development Index - GDI) và đo lường mức độ trao quyền về giới (Gender Empowerment Measurement - GEM). Từ Báo cáo phát triển con người năm 2010, UNDP bổ sung thêm chỉ số bất bình đẳng giới (Gender Inequality Index - GII) làm công cụ đánh giá bất bình đẳng giới. Các chỉ số này không chỉ cung cấp phương tiện đánh giá tình hình bình đẳng giới của mỗi quốc gia. Hơn thế, nó là công cụ hữu ích giúp so sánh tình trạng bình đẳng giới giữa các quốc gia và khu vực. Bài viết này sẽ khái quát lại các chỉ số liên quan đến bất bình đẳng giới trong các báo cáo phát triển con người của UNDP, từ đó, phân tích các chỉ số về bình đẳng giới của Việt Nam.

  1.  Chỉ số phát triển liên quan đến giới (Gender - related Development Index - GDI)

Chỉ số phát triển về giới là một chỉ số tổng hợp đo lường phát triển con người trong ba lĩnh vực giống như trong chỉ số phát triển con người HDI (tuổi thọ, học vấn và thu nhập), nhưng đã điều chỉnh để xem xét sự bất bình đẳng giới trong những lĩnh vực này. Chỉ số GDI được UNDP đưa ra và xây dựng cách tính toán từ năm 1995. Sự khác biệt so với HDI là ở chỗ chỉ số GDI điều chỉnh mức độ đạt được của mỗi quốc gia về tuổi thọ, học vấn và thu nhập cùng với mức độ đạt được của nam giới và nữ giới (UNDP, 1995). Về cơ bản, GDI vẫn dựa trên những số liệu của HDI nhưng có tính đến sự can thiệp của yếu tố giới để qua đó đánh giá trình độ phát triển giới của mỗi quốc gia. Do bất bình đẳng giới có mặt ở hầu hết các nước nên chỉ số GDI thường thấp hơn so với HDI.

Hiện nay, nhu cầu đối với việc tính toán chỉ số GDI ngày càng trở nên rõ ràng. Đo đạc được chỉ số phát triển giới sẽ cung cấp cơ sở quan trọng để từ đó các cơ quan chức năng xây dựng các chương trình, chính sách hướng tới sự phát triển của cộng đồng nói chung và cho từng giới nói riêng góp phần thực hiện mục tiêu vì sự phát triển của phụ nữ. Việc sử dụng GDI trong đánh giá của các tổ chức của Liên hợp quốc về mức thang phát triển của mỗi quốc gia, khu vực hiện nay đã trở nên phổ biến. Trong các báo cáo phát triển gần đây của Liên hợp quốc đều tồn tại song hành hai chỉ số trên. Mặc dù hoàn toàn dựa trên cách tính toán của HDI nhưng trong một số trường hợp GDI đã thay thế HDI trong các đánh giá phát triển liên quan tới yếu tố giới. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mức độ phát triển kinh tế đã đưa nhiều quốc gia tới ngưỡng thành công nhất định, nhưng khoảng cách giới ở đó vẫn còn là một bài toán chưa có lời giải đáp hữu hiệu khiến cho việc thực hiện mục tiêu công bằng, bình đẳng và tiến bộ chưa thực sự mang lại lợi ích đồng đều cho cả nam giới và nữ giới.

Về mặt đo lường, việc đưa ra chỉ số GDI không yêu cầu sự tính toán phức tạp và cũng không cần đo đạc thêm số liệu mà hoàn toàn dựa trên các kết quả thống kê về HDI nhưng có sự tính toán tách biệt cho hai giới. Về bản chất, chỉ số GDI không đo lường bất bình đẳng giới mà nó là sự điều chỉnh của HDI để đánh giá khoảng cách về giới. Chỉ số GDI giảm xuống khi mức độ đạt được của cả nam giới và nữ giới giảm xuống hoặc khi sự chênh lệch về những gì đạt được của nam và nữ tăng lên (UNDP, 1995). Sự chênh lệch về những khả năng cơ bản giữa nam và nữ càng tăng thì chỉ số GDI càng thấp khi so sánh với HDI.

Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong hành động nhằm thúc đẩy bình đẳng giới. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1946 đã thừa nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ. Đồng thời, cùng với giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ được xác định là một trong những sứ mệnh của cách mạng Việt Nam. Ngay từ lần tổng tuyển cử đầu tiên sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ Việt Nam đã được đảm bảo quyền đi bỏ phiếu giống như nam giới. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ở Châu Á thông qua Công ước chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) vào năm 1982. Từ cuối thế kỷ XX, Ủy ban vì sự tiến bộ của phụ nữ được thành lập từ cấp trung ương đến địa phương nhằm mục đích thúc đẩy bình đẳng giới và hỗ trợ sự phát triển của phụ nữ. Luật Bình đẳng giới cũng được ban hành ở Việt Nam từ năm 2007, và việc đẩy mạnh các hoạt động truyền thông về bình đẳng giới đã góp phần thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam. So sánh với chỉ số phát triển con người HDI, chỉ số phát triển giới của Việt Nam luôn đạt được thứ hạng tốt hơn so với HDI (xem chi tiết trong bảng 1). Những thành tựu về bình đẳng giới ở Việt Nam còn có thể quan sát được qua sự chênh lệch rất nhỏ giữa chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới ở Việt Nam (GDI). Điều này cho thấy sự đảm bảo bình đẳng giới song hành cùng với phát triển con người. Theo số liệu trong Báo cáo phát triển toàn cầu năm 2007/2008 của UNDP, chỉ số GDI của Việt Nam năm 2005 đã bằng 99% so với chỉ số HDI. Tỉ số chênh lệch giữa HDI và GDI của Việt Nam chỉ là khoảng 1,3 lần (xếp thứ 9 trên thế giới). Đây là một điều rất đáng ghi nhận trong việc giảm thiểu khoảng cách về giới trong phát triển con người ở Việt Nam.

Bảng 1: Chỉ số phát triển con người và chỉ số phát triển giới của Việt Nam

giai đoạn 2001 - 2007

Năm

Chỉ số phát triển con người (HDI)

Chỉ số phát triển giới

(GDI)

Chỉ số HDI

Xếp hạng HDI

Chỉ số GDI

Xếp hạng GDI

2001

0.688

109

0.687

89

2002

0.691

112

0.689

87

2003

0.704

108

0.702

83

2004

0.709

109

0.708

80

2005

0.733

105

0.731

91

2007

0.725

116

0.723

94

 

Nguồn: Báo cáo phát triển con người từ năm 2003 đến năm 2009

(UNDP, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2009)

Số liệu về các chỉ số thành phần của GDI chia theo giới ở Việt Nam trong Báo cáo phát triển con người năm 2009 (UNDP, 2009, Tr.182) cho thấy tuổi thọ và tỉ lệ mù chữ của nữ giới có xu hướng đạt được những kết quả tốt hơn so với nam giới. Tuy nhiên, đối với chỉ số nhập học chung (bao gồm các cấp học cao hơn) và thu nhập - những yếu tố ảnh hưởng quan trọng tới vị thế và vai trò của cá nhân - thì tỉ lệ của nam giới lại cao hơn hẳn so với nữ giới (xem chi tiết trong bảng 2). Số liệu trong Báo cáo phát triển con người cũng cho thấy đối với các cấp học cao hơn (ít nhất từ cấp 2 trở lên) ở Việt Nam thì tỉ lệ của nữ thấp hơn so với của nam. Cụ thể, tỉ lệ dân số ở độ tuổi từ 25 trở lên có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên của nam giới là 28.0 trong khi của nữ chỉ là 24.7 (UNDP, 2011, Tr.141).

Bảng 2: Các chỉ số thành phần của GDI chia theo giới

Chỉ số tuổi thọ

Chỉ số mù chữ của người lớn trên 15 tuổi

Chỉ số

nhập học chung

Chỉ số thu nhập

   (PPP US$)

   Nữ

  Nam

 Nữ

    Nam

    Nữ

Nam

     Nữ

   Nam

  76.1

  72.3

86.9

    93.9

   60.7

   63.9

    2131

   3069

Nguồn: Báo cáo phát triển con người năm 2009 (UNDP, 2009, Tr.182).

Mặc dù chỉ số GDI được xây dựng và sử dụng từ năm 1995, tuy nhiên, UNDP (2010) đã chỉ ra những mặt hạn chế của chỉ số GDI bởi chỉ số này kết hợp những thành tựu tuyệt đối và tương đối. Do đó, nếu một quốc gia đối mặt với nghèo tuyệt đối về thu nhập thì chắc chắn quốc gia đó dễ bị xếp hạng thấp ngay cả khi nó đạt được sự bình đẳng về giới. Bởi vậy, từ Báo cáo phát triển con người năm 2010 của UNDP, chỉ số GDI không được sử dụng để đo lường bình đẳng giới. Thay vào đó, chỉ số bất bình đẳng giới (GII) được xây dựng và sử dụng như một công cụ để đánh giá bình đẳng giới (được trình bày chi tiết ở phần sau).

  1. Chỉ số đo lường vị thế giới (Gender Empowerment Measurement - GEM)

Đo lường vị thế giới là một trong những chỉ báo được sử dụng để đánh giá mức độ bất bình đẳng giới. Chỉ số này được giới thiệu trong Báo cáo phát triển con người năm 1995 của UNDP cùng với chỉ số GDI. Chỉ số đo lường trao quyền về giới là một chỉ số hỗn hợp đo lường bất bình đẳng giới trên ba lĩnh vực chính, là sự tham gia và ra các quyết định chính trị, sự tham gia và ra các quyết định kinh tế, và quyền lực được phụ nữ sử dụng đối với các nguồn lực kinh tế. GEM tập trung vào ba biến số phản ánh sự tham gia của phụ nữ vào quá trình đưa ra các quyết định về chính trị và việc tiếp cận của họ đối với các cơ hội mang tính nghề nghiệp (có chuyên môn) và quyền kiếm sống. Phụ nữ thường bị loại trừ ra khỏi những sự tham gia đó, và như vậy có nghĩa là họ bị tước quyền công dân. Bởi vậy, chỉ số đo lường mức độ trao quyền về giới giúp đưa ra một trong những công cụ có thể đánh giá mức độ phụ nữ được trao quyền như thế nào ở các nước khác nhau (UNDP, 1995).

Chỉ số đo lường vị thế giới xem xét phụ nữ và nam giới có thể tham gia tích cực như thế nào vào đời sống kinh tế chính trị và quá trình ra quyết định. Nếu chỉ số phát triển liên quan đến giới (GDI) tập trung vào việc mở rộng khả năng thì chỉ số đo lường vị thế giới (GEM) quan tâm tới việc sử dụng những khả năng đó để đem lại lợi ích về các cơ hội của họ trong đời sống xã hội. GEM cố gắng đánh giá xem phụ nữ được trao quyền hay được giải phóng như thế nào để tham gia vào những lĩnh vực khác nhau của đời sống chung trong mối tương quan với nam giới. Nhưng do sự hạn chế về số liệu nên tiếc rằng chỉ số này không đo lường được sự trao quyền ở một số lĩnh vực khác, ví dụ như trong đời sống hộ gia đình, cộng đồng và ở các khu vực nông thôn. GEM mới chỉ tập trung vào các biến số cơ bản là khả năng kiếm sống về kinh tế; sự chia sẻ những công việc (mang tính chất chuyên môn và tính chất quản lý); và chia sẻ các vị trí trong Quốc hội. Cụ thể:

1) Hệ các biến số thứ nhất được lựa chọn phản ánh sự tham gia về kinh tế và ra quyết định kinh tế. Nó bao gồm tỉ lệ phần trăm phụ nữ và nam giới chiếm giữ các vị trí quản lý và tỉ lệ phụ nữ và nam giới có được những nghề nghiệp mang tính kỹ thuật và chuyên môn (xác định theo phạm trù nghề nghiệp).

2) Hệ biến số thứ hai được lựa chọn phản ánh sự tham gia vào chính trị và quá trình ra quyết định về chính trị. Chỉ báo đo lường biến số này được phản ánh qua tỉ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan công quyền ở các cấp địa phương; tỉ lệ nam giới và nữ giới ở trong Quốc hội.

Tuy nhiên, GEM không phải là một chỉ số mang tính quy tắc với hệ chuẩn mực mang tính toàn cầu. Điều cần thiết không phải là một tỉ lệ nhất định nam giới và nữ giới được lựa chọn tham gia vào vũ đài kinh tế, chính trị mà là cung cấp sự bình đẳng về cơ hội lựa chọn cho cả nam và nữ. GEM xem xét các kết quả của sự tham gia về kinh tế và chính trị. Những kết quả này có thể được tạo ra do những rào cản về cấu trúc đối với việc phụ nữ tiếp cận các vũ đài kinh tế, chính trị; hoặc có thể được tạo ra do cả phụ nữ và nam giới đều mong muốn nắm giữ các vai trò trong xã hội mà điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào nền tảng văn hóa của mỗi quốc gia (UNDP, 1995).

Về đo lường vị thế giới, số liệu về chỉ số GEM của Việt Nam năm 2005 theo Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của UNDP là 0.561 (đứng thứ 52 trên thế giới). Với con số 27.3% phụ nữ trong Quốc hội (2005), tỉ lệ phụ nữ trong Quốc hội ở Việt Nam cao thứ hai so với các nước ở Châu Á Thái Bình Dương và đứng thứ 9 trong 135 nước trên thế giới (Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người, 2003, Tr. 754). Tuy nhiên, chỉ số này của Việt Nam bị sụt giảm trong Báo cáo phát triển con người năm 2009 xuống còn 0.554, xếp thứ 62 trên thế giới (UNDP, 2009, Tr.187).

Tương tự như chỉ số GDI, từ Báo cáo phát triển con người năm 2010 của UNDP, chỉ số GEM không còn được đưa vào làm công cụ đánh giá bình đẳng giới bởi chỉ số GEM được cho rằng chỉ phản ánh được nhóm tài năng ở đô thị và phù hợp với các quốc gia phát triển. Chỉ số GDI và GEM chỉ nắm bắt được những gì có thể đưa ra đo lường chứ chúng không bao hàm hết những chiều cạnh quan trọng có thể là những yếu tố quyết định đối với vị thế tương đối của phụ nữ và chất lượng đời sống của họ, như: sự tham gia vào đời sống cộng đồng, vào quá trình ra quyết định ở cộng đồng; việc sử dụng các nguồn lực trong gia đình; đảm bảo an toàn về cá nhân và được tôn trọng phẩm giá (UNDP, 2010).

3. Chỉ số bất bình đẳng giới (Gender inequality index - GII)

Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) được đưa ra trong Báo cáo phát triển con người năm 2010 của UNDP và được sử dụng như một chỉ số để đánh giá bất bình đẳng giới ở các quốc gia. Chỉ số GII đo lường ba chiều cạnh thiết yếu đối với phụ nữ bao gồm sức khỏe sinh sản, trao quyền và tham gia vào thị trường lao động. GII đo lường sự thiếu hụt trong ba chiều cạnh này do bất bình đẳng giới. Chỉ số GII càng cao (càng tiến dần đến giá trị 1) phản ánh sự bất bình đẳng càng lớn. Theo số liệu của Báo cáo phát triển con người năm 2010, chỉ số bất bình đẳng giới ở các nước phát triển OECD là khá thấp (giá trị chỉ số trên 0.3), trong khi chỉ số bất bình đẳng giới lại khá cao ở các nước Nam Á, châu Phi và các quốc gia Ả-rập (UNDP, 2010, Tr. 160).

Đối với chiều cạnh sức khỏe sinh sản, có hai chỉ báo được sử dụng để đo lường trong chỉ số GII. Thứ nhất là tỉ lệ bà mẹ tử vong khi sinh. Điều này sẽ được giảm thiểu thông qua giáo dục cơ bản, dinh dưỡng đầy đủ, tiếp cận với các dụng cụ tránh thai, dịch vụ sức khỏe thai sản và sự tham gia của cán bộ y tế trong khi sinh nở. Thứ hai là tỉ lệ sinh sản vị thành niên. Việc có con sớm làm gia tăng nguy cơ về sức khỏe đối với bà mẹ và trẻ em, đồng thời hạn chế cơ hội phát triển về mặt giáo dục đối với phụ nữ và họ khó có cơ hội có được việc làm có chuyên môn, kỹ năng (UNDP, 2010).

Chiều cạnh trao quyền được đo lường qua tỉ lệ phụ nữ và nam giới trong Quốc hội. Tăng cường học vấn sẽ mở rộng sự tự do cho phụ nữ bởi họ có khả năng yêu cầu, phản ánh và hành động về điều kiện của họ và tăng cường khả năng tiếp cận thông tin (UNDP, 2010). 

Đối với chiều cạnh thị trường lao động, mặc dù đo lường tỉ lệ phụ nữ có việc làm và thất nghiệp, chỉ báo này bị phê phán là không phản ánh được khoảng cách về thu nhập và dữ liệu này khó có thể có được đầy đủ ở nhiều quốc gia (UNDP, 2010, Tr. 90 - 92).

Đối với Việt Nam, theo số liệu trong Báo cáo phát triển con người năm 2013 của UNDP, chỉ số bất bình đẳng giới ở Việt Nam là 0.299 - xếp thứ 48 trên thế giới (UNDP, 2010, Tr. 158). So sánh chỉ số GII với một số quốc gia khu vực Đông Á và Đông Nam Á cho thấy các quốc gia có nền kinh tế phát triển ở Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Xin-ga-po thường đạt được cả sự gia tăng về phát triển con người HDI và giảm thiểu bất bình đẳng giới tốt hơn Việt Nam. Tuy nhiên, so với các quốc gia Nam Á, mặc dù xếp hạng chỉ số HDI của Việt Nam thấp hơn so với Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lay-xi-a, In-đô-nê-xi-a nhưng Việt Nam lại đạt được thứ hạng tốt hơn trong việc giảm thiểu chỉ số bất bình đẳng giới (xem chi tiết bảng 3).

Bảng 3: Chỉ số HDI và GII của một số quốc gia Đông Á và Đông Nam Á

Quốc gia

Xếp hạng HDI

Xếp hạng GII

Chỉ số GII

Nhật Bản

10

21

0.131

Hàn Quốc

12

27

0.153

Xin-ga-po

18

13

0.101

Ma-lay-xi-a

64

42

0.256

Trung Quốc

101

35

0.213

Thái Lan

103

66

0.360

Phi-lip-pin

114

77

0.418

In-đô-nê-xi-a

121

106

0.494

Việt Nam

127

48

0.299

 

Nguồn: Báo cáo phát triển con người năm 2013 (UNDP, 2013, Tr. 144 - 158).

Trong khi xếp hạng HDI của Việt Nam không có sự cải thiện rõ rệt trong vài năm gần đây, xếp hạng bất bình đẳng giới GII của Việt Nam lại có xu hướng được nâng lên đáng kể. Cụ thể, vị trí xếp hạng chỉ số bất bình đẳng giới GII của Việt Nam (tính cho năm 2008) ở năm đầu tiên được đo lường trong Báo cáo phát triển con người năm 2010 là ở vị trí thứ 58 (UNDP, 2010, Tr. 158). Đến năm 2012, vị trí này được cải thiện lên thứ 48 (UNDP, 2013, Tr. 158). Điều đó phản ánh những thành tựu đáng kể trong việc cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam.

Xét về các chỉ báo thành phần của GII, có thể thấy các chỉ số về sức khỏe sinh sản, bao gồm tỉ lệ tử vong khi sinh và tỉ lệ sinh sản ở độ tuổi vị thành niên của Việt Nam còn tương đối cao so với các nước trong khu vực. Điều này cho thấy vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ trẻ em và việc sinh con sớm vẫn còn là một thách thức lớn đối với Việt Nam. Theo số liệu Báo cáo phát triển con người năm 2013 (UNDP, 2013, Tr. 157), tỉ lệ chết trong 100000 trẻ được sinh ra ở Việt Nam là 59 và tỉ lệ sinh con trên 1000 phụ nữ ở độ tuổi từ 15 - 19 ở Việt Nam là 22.7. Những con số này cao hơn hẳn các nước khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Xin-ga-po. Có lẽ sự phát triển kinh tế ở các quốc gia đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư vào y tế, chăm sóc sức khỏe, giúp cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản.

Tuy nhiên, nếu so sánh các chỉ báo về vị thế phụ nữ qua tỉ lệ tham chính và tham gia thị trường lao động trong chỉ số GII thì Việt Nam lại đạt được những thành tựu đáng kể. Tỉ lệ phụ nữ Việt Nam tham gia vào Quốc hội chiếm 24.4%, cao hơn hẳn một số quốc gia có nền kinh tế phát triển trong khu vực, ví dụ như Nhật Bản là 13.4%, Hàn Quốc là 15.7%, Xin-ga-po là 23.5%. Đồng thời, tỉ lệ phụ nữ trên 15 tuổi ở Việt Nam tham gia vào thị trường lao động cũng rất cao, chiếm 73% trong khi tỉ lệ này ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản và Hàn Quốc đều dưới 50%, chỉ số này của Xin-ga-po và Trung Quốc cũng chỉ đạt được lần lượt là 52.9% và 67.7% (UNDP, 2013, Tr. 156-159). Việt Nam được coi là một trong những nước có tỉ lệ phụ nữ tham gia vào thị trường lao động cao nhất trên thế giới (Knodel, Vũ Mạnh Lợi, Jayakody, và Vũ Tuấn Huy, 2005; Terrawichtchainan, Knodel, Vũ Mạnh Lợi, và Vũ Tuấn Huy, 2010). Tuy nhiên, sự tham gia nhiều vào thị trường lao động không phản ánh được rõ về tình trạng bình đẳng giới bởi lẽ mặc dù phụ nữ tham gia nhiều vào lực lượng lao động nhưng vẫn còn sự chênh lệch lớn giữa thu nhập của nam giới và nữ giới ở Việt Nam. Như số liệu đã chỉ ra trong Bảng 2, thu nhập của phụ nữ ở Việt Nam chỉ bằng khoảng 2/3 so với nam giới. Việc thu nhập thấp hơn so với nam giới có khả năng làm hạn chế vai trò và tiếng nói của phụ nữ trong gia đình và xã hội.

Kết luận

Có thể thấy rằng bình đẳng nói chung và bình đẳng giới nói riêng là một chủ đề rất được quan tâm trong các báo cáo thường niên về phát triển con người của UNDP. Việc đo lường, đánh giá bình đẳng giới do đó cũng được quan tâm, phát triển. Sự ra đời các chỉ số liên quan đến đo lường bình đẳng giới như GDI, GEM, GII cùng với việc bổ sung thêm các chỉ báo đo lường đã mở rộng khả năng đánh giá bình đẳng giới trên nhiều lĩnh vực, trong đó tập trung nhiều vào sức khỏe, giáo dục, thu nhập, việc làm và sự tham chính. Việc xây dựng các chỉ số này hữu ích không chỉ cho các quốc gia đánh giá tình hình bình đẳng giới ở quốc gia mình mà hơn thế, các chỉ số này còn hữu ích cho việc so sánh bình đẳng giới ở khu vực và giữa các quốc gia trên thế giới.

Số liệu về tình trạng bình đẳng giới ở Việt Nam trong các Báo cáo phát triển con người cho thấy những chuyển biến rõ rệt trong việc cải thiện bình đẳng giới ở Việt Nam. Chỉ số phát triển giới (GDI) ở Việt Nam qua các năm luôn đạt được thứ hạng cao hơn so với chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam. Sự chênh lệch không đáng kể giữa giá trị chỉ số HDI và GDI phần nào phản ánh sự thúc đẩy bình đẳng giới song hành với phát triển con người ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, mặc dù giá trị tuyệt đối của chỉ số HDI của Việt Nam vẫn gia tăng nhẹ nhưng xếp hạng HDI của Việt Nam trên thế giới bị sụt giảm do có sự gia tăng nhanh hơn ở các quốc gia khác. Do GDI được đo lường dựa trên các chỉ số thành phần của HDI nên thứ hạng GDI của Việt Nam mặc dù tốt hơn thứ hạng của HDI Việt Nam nhưng nhìn chung nó có chiều hướng bị sụt giảm khi xếp hạng cùng với các quốc gia trên thế giới.

Việc bổ sung chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của UNDP từ Báo cáo phát triển con người năm 2010 góp phần phản ánh rõ hơn tình trạng bất bình đẳng giới bởi nó không còn chịu ảnh hưởng bởi chỉ báo thu nhập của các quốc gia. Theo số liệu từ báo cáo phát triển con người của UNDP (2010), mặc dù chỉ số HDI của Việt Nam thấp hơn so với một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lay-xi-a, In-đô-nê-xi-a nhưng Việt Nam lại đạt được vị thế tốt hơn so với các quốc gia này trong việc giảm thiểu bất bình đẳng giới, phản ánh qua sự cải thiện của chỉ số GII. Điều đó góp phần minh chứng cho những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc thúc đẩy bình đẳng giới. 

Tuy nhiên, cải thiện bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn là một thách thức lớn. Những thành tựu đạt được qua các chỉ số trong các Báo cáo phát triển con người là những chỉ báo phản ánh bề nổi của việc thu hẹp khoảng cách về sức khỏe, việc làm, giáo dục, tham chính giữa hai giới trong xã hội chứ khó có thể phản ánh được thực chất mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ, đặc biệt là trong gia đình. Hiện tại, các chỉ số về bình đẳng giới được đưa ra mới chỉ được đo lường trên phạm vi xã hội. Trong khi đó, chưa có những chỉ báo chung để đánh giá bất bình đẳng giới trong gia đình. Các nghiên cứu ở Việt Nam đã chỉ ra sự tồn tại rất lớn của bất bình đẳng trong gia đình thông qua một số chỉ báo như sự tham gia của nam giới và nữ giới vào các hoạt động lao động trong gia đình, tiếp cận và kiểm soát nguồn lực trong gia đình, bạo lực trong gia đình (Knodel et al., 2005; Lê Thị Thanh Hương, 2009; Terrawichtchainan et al., 2010; Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh, 2008; Vũ Tuấn Huy, 2004). Tình trạng này không chỉ phổ biến ở Việt Nam mà còn diễn ra ở nhiều quốc gia khác, kể cả các quốc gia phát triển ở phương Đông và phương Tây (xem Allan và Crow, 2001; Baxter, 2000; Baxter và Western, 1998; Charles và Kerr, 1999; Cheal, 2002; Eichler, 1997; Smith và Huston, 2004; Straughan, 2009; Tokuhiro, 2010; Walters và Whitehouse, 2012). Bất bình đẳng giới trong gia đình có nguy cơ kìm hãm sự phát triển của phụ nữ ngoài xã hội xuất phát từ việc gia đình đầu tư ít vào giáo dục, đặc biệt là giáo dục ở bậc cao cho phụ nữ; việc phụ nữ phải dành nhiều thời gian hơn vào công việc gia đình có thể hạn chế sự đầu tư thời gian của họ cho công việc chuyên môn và hoạt động xã hội. Ủy ban CEDAW tại Việt Nam đã bày tỏ những quan ngại về việc thực hiện Công ước CEDAW ở Việt Nam, trong đó xác định những rào cản đối với việc thực hiện Công ước, bao gồm sự ảnh hưởng của tư tưởng gia trưởng ở Việt Nam. Việc thay đổi văn hóa tư tưởng là một thách thức rất lớn, đòi hỏi sự tuyên truyền, giáo dục trong một thời gian dài. Bởi vậy, việc xây dựng các chính sách về bình đẳng giới không chỉ dừng lại ở việc thúc đẩy vị thế và tiếng nói của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, lao động việc làm ngoài xã hội mà hơn thế, cần có những chính sách, chương trình, hành động hướng tới việc cải thiện vị trí của phụ nữ trong gia đình để từ đó góp phần cải thiện thực sự mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong phạm vi gia đình và xã hội.

 

Tài liệu tham khảo

 

  1. Allan, G., & Crow, G. (2001), Families, households and society, New York: Palgrave.
  2. Baxter, J. (2000), "The joys and justice of housework", Sociology, 34(4), 609 - 631.
  3. Baxter, J., & Western, M. (1998), "Satisfaction with housework: Examining the paradox", Sociology, 32, 101 - 120.
  4. Charles, N., & Kerr, M. (1999), "Women's work", In G. Allan (Ed.), The sociology of the family. A reader, Oxford, UK: Blackwell Publishers.
  5. Cheal, D. (2002), Sociology of family life, New York: Palgrave.
  6. Eichler, M. (1997), Family shifts: families, policies and gender equality, Don Mills, Ont, Oxford University Press Canada.
  7. Knodel, J., Vu Manh Loi, Jayakody, R., & Vu Tuan Huy (2005), "Gender role in the family", Asian Population Studies, 1(1), 69 - 92.
  8. Lê Thị Thanh Hương (2009), Ứng xử của người dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong gia đình [Behaviors in families of residents living in Red River Delta], Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
  9. Smith, S. E., & Huston, T. L. (2004), "How and why marriages change over time: shifting patterns of companionship and partnership", In R. D. Conger, F. O. Lorenz, & K. A. S, Wickrama (Eds.), Continuity and change in family relations: Theory, methods, and empirical findings (pp. 145-180), New Jersey: Lawrence Erlbaum Associates.
  10. Straughan, P. T. (2009), Marriage dissolution in Singapore: Revisiting family values and ideology in marriage, Leiden/ Boston Brill.
  11. Terrawichtchainan, B., Knodel, J., Vu Manh Loi, & Vu Tuan Huy (2010), "The gender division of household labor in Vietnam: cohort trends and regional variations", Journal of Comparative Familt Studies, 41(1), 57 - 85.
  12. Tokuhiro, Y. (2010), Marriage in contemporary Japan, Milton Park, Abingdon, Oxon, New York: Routledge.
  13. Trần Thị Vân Anh, & Nguyễn Hữu Minh (2008), Bình đẳng giới ở Việt Nam [Gender equality in Vietnam], Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  14. Trung tâm nghiên cứu Quyền con người (2003), Quyền con người ở Trung Quốc và Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  15. UNDP (1995), Human Development Report 1995, Oxford University Press, New York.
  16. UNDP (1997), Human Development Report 1997, Oxford University Press, New York.
  17. UNDP (2003), Human Development Report 2003: "Millennium development goals: A compact among nations to end human poverty", Oxford University Press, New York.
  18. UNDP (2004), Human development 2004: "Cultural liberty in today’s diverse world".   
  19. UNDP (2005), Human development report 2005: "International cooperation at a crossroads. Aid, trde and security in an unequal world C", Denny (Ed.).   
  20. UNDP (2006), Human development report 2006: " Beyond scarcity: Power, poverty and the global water crisis", Palgrave Macmillan, New York.
  21. UNDP (2007), Human Development Report 2007/2008: "Fighting climate change: Human solidarity in a divided world", Palgrave Macmillan, New York.
  22. UNDP (2009), Human Development Report 2009: "Overcoming barrier: Human mobility and development", UNDP, New York.
  23. UNDP (2010), Human development report 2010, The real wealth of nations: "Pathways to human development", Palgrave Macmillan, New York.
  24. UNDP (2013), Human Development Report 2013:"The rise of the South Human progress ina diverse world", Downlooad at http://www.vn.undp.org/content/vietnam/en/home/library/poverty/hdr.html on 7 Fed 2014.
  25. Vũ Tuấn Huy (Ed.) (2004), Xu hướng gia đình ngày nay [Contemporary tendency of families], Khoa hoc Xã hội, Hà Nội.
  26. Walters, P., & Whitehouse, G. (2012), "A limit to reflectivity: The challenge for working women of negotiating sharing of household labor", Journal of Family Issues, 33, 1117-1139.

 

 

 


* TS.; Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.