Những vấn đề cần quan tâm qua các báo cáo phát triển con người của UNDP

29/12/2015

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM

QUA CÁC BÁO CÁO PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CỦA UNDP

TRỊNH THỊ NGHĨA *

 

1. Quan niệm của Chương trình phát triển Liên hợp quốc về phát triển con người

Vấn đề con người và nhân tố con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội được cộng đồng thế giới đặt ra một cách thực tế hơn từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Đặc biệt, từ khi Chương trình phát triển Liên hợp quốc (United Nations Development Programme - UNDP) đưa ra Báo cáo phát triển con người toàn cầu (HDR - Human Development Report) đầu tiên vào năm 1990. Trong Báo cáo này, UNDP đã nêu rõ tuyên ngôn đầy ấn tượng về mục đích của sự phát triển: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống dài lâu, khỏe mạnh và sáng tạo. Chân lý giản đơn nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính” (UNDP, 1990). Từ đó đến nay, Báo cáo phát triển con người được UNDP xuất bản thường niên. Cùng với Báo cáo phát triển con người toàn cầu, dưới sự điều phối của UNDP, nhiều quốc gia đã công bố Báo cáo phát triển con người của riêng mình. Thông qua Báo cáo phát triển con người (PTCN), các nước đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu PTCN và kịp thời đưa ra những chính sách để giải quyết những vấn đề thực tiễn của nước mình.

Khái niệm PTCN mà UNDP đưa ra từ năm 1990 đến nay tuy không có sự thay đổi lớn về tư tưởng qua hai giai đoạn (từ 1990 - 2009 và từ 2010 đến nay) nhưng có những điều chỉnh quan trọng về phương thức đo đạc, tính toán. PTCN về cơ bản vẫn được hiểu là mở rộng sự lựa chọntăng cường khả năng lựa chọn của con người, để con người có thể sống lâu, sống khỏe và sáng tạo. Năm 2010, sau khi cải tiến phương pháp tính toán về các chỉ số PTCN, UNDP định nghĩa lại: “PTCN là việc mở rộng quyền tự do của con người được sống lâu, sống khỏe mạnh và sáng tạo; tiến tới đạt được những mục đích khác nhau trong cuộc sống mà họ có lý do để coi trọng; và tham gia tích cực vào việc hình thành nên một sự phát triển bình đẳng và bền vững trên một hành tinh chung. Con người vừa là đối tượng hưởng lợi vừa là tác nhân thúc đẩy PTCN, dù với tư cách cá nhân hay tư cách nhóm người” (UNDP, 1990). Theo quan niệm này, sự PTCN bao gồm các yếu tố: sự thịnh vượng, trao quyền, tính chủ thể và công bằng. “Quan điểm này nhấn mạnh tới việc lấy con người làm trung tâm và sự tự do của con người” (UNDP, 1990). Con người không phải là đối tượng thụ động mà là những chủ thể của chính quá trình phát triển. Phát triển con người phải bao gồm trao quyền cho con người, để họ là tác nhân có trách nhiệm và đổi mới chính mình trong quá trình phát triển. “PTCN giúp con người có thể tự giúp được chính họ” (UNDP, 1990). Con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội, lấy PTCN làm mục tiêu, làm tiêu chí cho sự phát triển xã hội mà UNDP đưa ra, đang trở thành yêu cầu mang tính nguyên tắc đối với các chính phủ trong việc hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, môi trường, xã hội và phát triển chính con người.

2.  Những vấn đề cần quan tâm về phát triển con người qua các báo cáo phát triển con người

Việc đánh giá những thành tựu mà các quốc gia và cộng đồng thế giới đã đạt được luôn gắn liền với việc xác định những vấn đề của sự phát triển con người. Các chủ đề của các Báo cáo PTCN mỗi năm đã thể hiện điều đó:

- HDR 1990: Khái niệm và thước đo phát triển con người;

- HDR 1991: Tài chính cho phát triển con người;

- HDR 1992: Những khía cạnh toàn cầu cho phát triển con người;

- HDR 1993: Sự tham gia của tất cả mọi người;

- HDR 1994: Những thước đo mới của an ninh con người;

- HDR 1995: Giới và sự phát triển con người;

- HDR 1996: Tăng trưởng kinh tế và sự phát triển con người;

- HDR 1997: Sự phát triển con người với xóa đói giảm nghèo;

- HDR 1998: Tiêu dùng cho sự phát triển con người;

- HDR 1999: Toàn cầu hóa trên phương diện con người;

- HDR 2000: Quyền con người và phát triển con người;

- HDR 2001: Ứng dụng công nghệ mới cho phát triển con người;

- HDR 2002: Tăng cường dân chủ trong một thế giới bị phân tách;

- HDR 2003:  Các mục tiêu thiên niên kỷ: thỏa thuận giữa các nước nhằm xóa bỏ tình trạng nghèo khổ;

- HDR 2004: Tự do văn hóa trong thế giới đa dạng ngày nay;

- HDR 2005: Giao điểm hợp tác quốc tế vào thời điểm quyết định: Viện trợ, thương mại và an ninh trong một thế giới bất bình đẳng;

- HDR 2006: Không chỉ là sự khan hiếm: Quyền lực, đói nghèo và cuộc khủng khoảng nước sạch toàn cầu;

- HDR 2007/2008: Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: đoàn kết nhân loại cho một thế giới phân cách;

- HDR 2009: Những trở ngại đang tới: Di dân và phát triển con người;

- HDR 2010: Của cải thực sự của các quốc gia: Đường đi tới phát triển con người;

- HDR 2011:  Bền vững và công bằng: Một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người;

- HDR 2013:  Sự trỗi dậy của các nước Nam bán cầu: Tiến bộ về con người trong một thế giới đa dạng;

- HDR 2014: Duy trì thành quả phát triển con người: Giảm thiểu nguy cơ tổn thương và tăng cường khả năng chống chịu.

Chủ đề và nội dung mà các Báo cáo PTCN của UNDP đề cập qua các năm, như đánh giá của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên, mà “nó phản ánh thực tế những thách thức đối với PTCN trong từng giai đoạn phát triển” (UNDP, 1990). Những vấn đề của sự PTCN là rất phong phú và đa dạng: từ tăng trưởng kinh tế, thu nhập đến chăm sóc sức khỏe, từ giáo dục, dân chủ đến an ninh con người, từ bình đẳng giới, quyền lực xã hội đến xóa đói giảm nghèo, biến đổi khí hậu, phát triển bền vững,… Đầu năm 2015, nhân kỷ niệm 25 năm xuất bản Báo cáo PTCN đầu tiên, UNDP đã giới thiệu một cách tiếp cận mới để thúc đẩy thịnh vượng của con người. Văn phòng Báo cáo PTCN (Human Development Report Office - HDRO) đã một lần nữa trình bày quan điểm về PTCN (HDRO, 2015). Theo đó, những vấn đề cần quan tâm về PTCN mà UNDP khuyến cáo các Chính phủ gồm:

Một là, Mục tiêu tối thượng của sự phát triển là con người, chứ không phải là sự gia tăng đơn thuần về GDP hay của cải vật chất. Đừng bao giờ lãng quên con người là trung tâm của sự phát triển.

Khi tốc độ tăng GDP mất dần “ngôi vị độc tôn” để đánh giá sự phát triển, người ta hướng sự phát triển sang các vấn đề của bản thân con người và liên quan đến đời sống con người. Đó là “mở rộng sự phong phú của đời sống con người, chứ không phải chỉ đơn giản là sự phong phú của các nền kinh tế mà con người đang sống” (HDRO, 2015). Con người, chứ không phải GDP mới là mục đích tối thượng của sự phát triển. Từ chỗ là mục đích của sự phát triển, tăng trưởng kinh tế giờ đây chỉ còn là phương tiện để con người phát triển chính mình. Vấn đề là ở chỗ, việc sử dụng những thành quả của tăng trưởng kinh tế mới chỉ là điều kiện vật chất để tạo ra những cơ hội cho con người. Cách tiếp cận này chú ý việc cải thiện đời sống cộng đồng hơn là bản thân sự tăng trưởng kinh tế. Bởi vì, GDP tăng cũng không tự động dẫn tới sự phát triển đối với tất cả mọi người; rất có thể chỉ một bộ phận nào đó được hưởng lợi. Amartya Sen trong một bài phỏng vấn năm 2013 đã nói: “Tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng bởi nó có thể giúp con người có cuộc sống tốt hơn, nhưng coi bản thân sự tăng trưởng là một đối tượng để tôn thờ và ngưỡng mộ lại là một phần của vấn đề”1. Ông cho rằng, để đánh giá một quốc gia đang hoạt động như thế nào, không thể chỉ nói về thu nhập bình quân đầu người. Ông lấy ví dụ, Ấn Độ đã từng giàu hơn Băng-la-đét 50% về GDP, và giờ đã giàu hơn 100%. Tuy nhiên, đầu những năm 1990, nếu so sánh những chỉ số khác thì tuổi thọ trung bình của Ấn Độ hơn Băng-la-đét ba năm, nhưng giờ tụt lại phía sau ba đến bốn năm. Tuổi thọ trung bình ở Ấn Độ là 65 hoặc 66, còn ở Băng-la-đét là 69. Về tỉ lệ tiêm chủng: Ấn Độ là 72%, Băng-la-đét là hơn 95%. Tỉ lệ bé gái so với bé trai được đến trường cũng tương tự2. Theo Sen, sự phát triển và bảo vệ năng lực con người phải là trọng tâm của những hoạch định chính sách của các quốc gia. Với triết lý con người là trung tâm, nghĩa là con người vừa là mục tiêu, động lực và là nguồn lực vô tận của sự phát triển, con người đóng vai trò quyết định ở cả “đầu vào” và “đầu ra” và trong toàn bộ quá trình phát triển. “Ở đầu vào, nhân tố quyết định sự phát triển là vốn con người, tiềm năng con người. Ở đầu ra, mục tiêu của sự phát triển là chất lượng sống, phát triển con người, hạnh phúc con người” (UNDP, 1990).

Khi con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, thì sự phát triển của các lĩnh vực khác phải nhằm tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cho sự phát triển con người. Nói cách khác, phát triển xã hội xét đến cùng là PTCN, trình độ PTCN là thước đo tiến bộ xã hội.

Hai là, Quan niệm mới về phát triển con người cần phải được thể hiện qua những kết quả nghiên cứu định lượng về sự phát triển con người. Chỉ số PTCN là bộ công cụ quan trọng và có ý nghĩa, trong đó, các chỉ số giáo dục, y tế và thu nhập của người dân cần được đặc biệt chú ý.

Từ năm 1990, khi công bố Báo cáo PTCN, UNDP đã đưa ra chỉ số PTCN (HDI - Human Development Index) “để đo đạc những khía cạnh cơ bản của năng lực con người” (UNDP, 1990). Cách tiếp cận này điển hình cho tư duy gắn lý luận với thực tế. Nghiên cứu không dừng lại ở lý luận mà phải minh chứng bằng những con số cụ thể. Phát triển con người là một vấn đề rộng lớn, nhưng mức độ PTCN phải được biểu hiện qua những thước đo định lượng. Theo đó, HDI bao gồm ba chỉ số cơ bản: chỉ số kinh tế biểu hiện qua thu nhập quốc dân bình quân/người, chỉ số này thể hiện chất lượng sống; chỉ số tuổi thọ trung bình phản ánh năng lực sinh thể - cuộc sống trường thọ và khỏe mạnh; chỉ số giáo dục - tỉ lệ người trưởng thành biết chữ và tỉ lệ nhập học hàng năm - phản ánh năng lực tinh thần (tri thức, trình độ) của người dân. Tuy nhiên, với tính khái quát và phép quy giản để tìm ra các đại lượng tương đối phản ánh đời sống vật chất, năng lực sinh thể và năng lực tinh thần của dân cư, bộ công cụ HDI cũng không thể phản ánh đầy đủ những vấn đề trong thực tiễn xoay quanh ba lĩnh vực rộng lớn này. Thậm chí, nó có thể che giấu những hạn chế trong phát triển kinh tế, những yếu kém trong phát triển giáo dục và y tế, chăm sóc sức khỏe người dân, những tiêu cực trong bộ máy công quyền, văn hóa và các dịch vụ xã hội khác,… Mặc dầu vậy, những nghiên cứu định lượng này là rất quan trọng, nó phản ánh trình độ PTCN của mỗi quốc gia và mức độ thực hiện các mục tiêu đó - dù còn nhiều hạn chế. Selim Jahan, Giám đốc Văn phòng Báo cáo PTCN viết: “Nếu lấy một cách nói ẩn dụ, tính toán sự PTCN là một ngôi nhà và chỉ số HDI là cánh cửa đi vào nhà, người ta không nên nhầm lẫn cánh cửa với ngôi nhà và người ta không nên dừng lại ở cửa, thay vì nên đi vào nhà” (Selim Jahan, 2015). Vì vậy, đối với các nhà hoạch định chính sách cần thấy tính hai mặt của vấn đề này, để trong quá trình xây dựng chiến lược PTCN quốc gia phải tính đến tất cả các yếu tố tác động đó; để những giải pháp đưa ra có thể khắc phục được những yếu kém, tiêu cực trong xã hội mà HDI có thể làm che khuất, hướng PTCN một cách toàn diện và bền vững.

Cho đến nay, số lượng các chỉ số được UNDP bổ sung hàng năm thông qua các Báo cáo PTCN, như: chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI - Human poverty Index), chỉ số phát triển giới GDI (Gender - related development Index), chỉ số đo lường sự trao quyền giới (GEM - Gender Empower Measure), chỉ số bất bình đẳng giới (GII - Gender Inequality Index), chỉ số nghèo đa chiều (MPI - Multidimensional Poverty Index - từ năm 2010),… đã làm rõ hơn nhiều khía cạnh xã hội của sự PTCN, những khía cạnh, sắc thái khác nhau của ba chỉ số cơ bản. Năm 2000, UNDP đưa ra các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals - MDGs), các mục tiêu này nhằm hướng tới PTCN một cách bền vững. Điều đó thể hiện sự nỗ lực của UNDP trong việc phản ánh đầy đủ, bao quát hơn nữa về trình độ PTCN. Điều này có giá trị thực tiễn to lớn trong việc đánh giá mức độ PTCN của mỗi quốc gia và nỗ lực của các chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu cải thiện chất lượng sống cho người dân.

Phát triển con người là quá trình tăng cường các khả năng (hoặc các cơ hội) cho sự lựa chọn của con người. Theo văn phòng Báo cáo PTCN thì, PTCN là làm cho mọi người được tự docó cơ hội để sống cuộc sống có giá trị. Con người được phát triển các khả năng của mình và tạo cho họ cơ hội để sử dụng chúng (HDRO, 2015). Nếu một người được đào tạo các kỹ năng nhưng lại không được sử dụng trong công việc (hoặc công việc người đó đảm nhận không cần đến hoặc nó bị từ chối do người quản lý của họ) thì nghĩa là họ chưa có cơ hội để phát triển năng lực của mình. Phát triển con người, về cơ bản là mang lại cho họ các cơ hội tự do lựa chọn. Có thể trình độ của mỗi người khác nhau, việc sử dụng cơ hội của mỗi người và hiệu quả mang lại khác nhau, nhưng trước hết con người cần được tạo điều kiện để bình đẳng về cơ hội lựa chọn, được tự do lựa chọn và có nhiều cơ hội để lựa chọn. Một người nào đó lựa chọn việc không ăn uống, để bản thân đói (vì lý do tôn giáo) khác với một người đang đói vì họ không đủ tiền để mua thức ăn. Tức tự do luôn gắn liền với những điều kiện nhất định mới tạo ra sự phát triển. Edouard A.Wattez lý giải, người nghèo thường có ít cơ hội lựa chọn vì những lý do kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị; vì thế tình trạng nghèo đói sẽ còn tiếp tục kéo dài. Điều quan trọng là “việc tăng thêm khả năng tiếp cận của dân nghèo nông thôn với tri thức và thông tin bổ ích cũng như việc tham gia của họ trong vấn đề chi tiêu công cộng và quá trình ra quyết định ở địa phương rõ ràng là yếu tố cơ bản để nâng cao nhận thức về các cơ hội hiện có giúp họ thoát khỏi tình trạng nghèo đói và xây dựng năng lực thực hiện những sự lựa chọn đó” (UNDP, 1990). “Hy vọng, sẽ đến lúc tự do sẽ trở thành tài sản chung, tài sản đích thực của tất cả mọi người. Nhưng trước hết mọi người trên thế giới này đều phải được bình đẳng về cơ hội vươn tới” (UNDP, 1990). Amartya Sen trong bài phỏng vấn của mình3 đã lấy ví dụ ở Nhật Bản để nói về vấn đề này. Ở Nhật Bản, ngay sau thời kỳ cải cách Minh Trị, Chính phủ xác định cái họ tụt hậu so với phương Tây chính là ở giáo dục. Sau đó họ mở rộng giáo dục phổ thông một cách ấn tượng, rồi cải thiện y tế phổ cập. Họ nhận thấy rằng dân số khỏe mạnh và có giáo dục phục vụ rất hiệu quả cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, từ đó thu nhập cho người dân tăng lên và điều kiện sống ngày càng được đảm bảo. Bài học này sau đó được áp dụng tại Hàn Quốc, Xingapo, Hồng Kông, Đài Loan. Những thành tựu mà họ đạt được trên tất cả các lĩnh vực bắt nguồn không phải từ tăng trưởng kinh tế mà bắt đầu từ sự phát triển năng lực con người, cả về thể chất và trí tuệ cũng như mức sống của dân cư. A.Sen cho rằng, “sự phát triển năng lực con người còn là một cách tiếp cận cổ điển của châu Á nhằm đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững”4. Bà Pratibha Mehta- Điều phối viên Thường trú Liên hợp quốc và Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam - cho rằng: “Nếu không đầu tư vào con người và cải thiện giáo dục - đào tạo, lợi ích thu được từ toàn cầu hóa và các thị trường toàn cầu hay đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ vẫn bị hạn chế”5.

Ba là, UNDP đặc biệt khuyến cáo các chính phủ cần phải hướng đến con người ở phạm vi phổ quát và rộng lớn - con người cộng đồng, nhất là các cộng đồng ít nhận được cơ hội phát triển, dễ bị tổn thương.

Trong các Báo cáo PTCN, con người được nhìn nhận “không chỉ là thành viên của một cộng đồng dân tộc cụ thể mà họ được nhìn nhận một cách bình đẳng với tư cách là một công dân thế giới - là thành viên của nhân loại tiến bộ” (UNDP, 1990). Vì vậy, vấn đề PTCN được đặt ra là không giới hạn đối với một nhóm người hay một nhóm quốc gia mà PTCN phải mang tính phổ quát cho toàn cầu. Con người, không phân biệt quốc tịch, dân tộc, màu da, tôn giáo, văn hóa,… đều bình đẳng, đều được tăng cường mở rộng các cơ hội và nâng cao năng lực lựa chọn. Từ quan niệm đến chiến lược hành động, từ lý luận đến các chỉ số đo đạc, tính toán lượng hóa sự PTCN, UNDP đều phải hướng đến xây dựng cộng đồng có cuộc sống vật chất đầy đủ, có học vấn, khỏe mạnh và trường thọ. UNDP cũng chỉ ra các rào cản trong quá trình PTCN ở mỗi quốc gia cũng như lý giải những nguyên nhân của bất bình đẳng trong việc tiếp cận cơ hội phát triển và năng lực lựa chọn của con người giữa các nước với nhau. Có thể nói cách tiếp cận này trong nghiên cứu PTCN là hết sức nhân văn, nó vừa đề cao con người cá nhân với tư cách là một chủ thể nhận thức, vừa khẳng định sự phát triển của các cá nhân luôn gắn liền với sự phát triển của cộng đồng. Các chỉ số đo lường mà UNDP xây dựng trong các Báo cáo PTCN luôn gắn liền với dân cư của một quốc gia hoặc khu vực. Tức là khi nói đến trình độ PTCN thì luôn là sự phát triển của cộng đồng người, là vấn đề có tính xã hội, tính nhân loại.

Trong các Báo cáo của mình, UNDP luôn nhấn mạnh cần phải quan tâm đến những cộng đồng dễ bị tổn thương, hạn chế về các cơ hội lựa chọn phát triển, như: phụ nữ, trẻ em, người lao động di trú, nhóm người dân tộc thiểu số,… Trong đó, “những người phải sống trong nghèo đói và thiếu thốn cùng cực thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất” (UNDP, 1990). Tình trạng dễ bị tổn thương là một loạt các điều kiện tác động bất lợi ảnh huởng đến khả năng của một cá nhân, hộ gia đình hoặc một cộng đồng dẫn tới những tổn thất và thiệt hại mà họ có thể gặp phải.

Ai dễ bị tổn thương, tổn thương do cái gì, và tại sao?

 

 

 

 

Tình trạng dễ bị tổn thương

Ai?

Tổn thương do cái gì?

Tại sao?

Người nghèo, lao động trong khu vực không chính thức bị cô lập về mặt xã hội

Các cú sốc về kinh tế, y tế

Năng lực hạn chế

Phụ nữ, người khuyết tật, người nhập cư, các nhóm người thiểu số, trẻ em, người già, thanh niên

Thảm họa thiên nhiên, biến đổi khí hậu, rủi ro công nghiệp

Vị trí địa lý, địa vị trong xã hội, các giai đoạn nhạy cảm trong vòng đời

Toàn bộ cộng đồng, mọi vùng miền

Xung đột, bất ổn xã hội

Gắn kết xã hội lỏng lẻo, thể chế chậm chạp, quản trị yếu kém

 

Nguồn: UNDP, Tóm tắt Báo cáo phát triển con người 2014.

Nhiều năm qua, UNDP đã bổ sung thêm các chỉ báo để đo lường và đánh giá các nhóm đặc thù này, định hướng cho các quốc gia căn cứ vào đó để có những chính sách ưu tiên phù hợp, tăng cường vị thế, giảm thiểu những nguy cơ tổn thương và tăng cường khả năng chống chịu, có nhiều cơ hội để lựa chọn và đẩy mạnh việc nâng cao năng lực cho các cộng đồng, các nhóm này. Có thể kể đến các chỉ số có liên quan trực tiếp đến nhóm thiểu số đặc thù, như: chỉ số nghèo đa chiều (MPI), chỉ số nghèo đói cùng cực (Expreme Poverty), nghèo đói đa chiều ở trẻ em (Child Multidimensional Poverty), tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em được tiêm chủng, tỉ lệ bà mẹ tử vong khi sinh, tỉ lệ dân cư được sử dụng nước sạch, chỉ số phát triển giới (GDI), chỉ số bình đẳng giới (GEI, 2004), chỉ số bất bình đẳng giới (GII, 2010);… Những chỉ số này khá phù hợp với tinh thần Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương6. UNDP khẳng định: “Phát triển con người đòi hỏi phải xóa bỏ các rào cản đang ngăn cản con người được tự do hành động. Đó là việc tạo điều kiện cho những người bị thiệt thòi và bị cô lập khỏi xã hội được thực hiện các quyền của họ, được chia sẻ những mối quan tâm của họ một cách cởi mở, được lắng nghe và được chủ động quyết định số phận của chính họ” (UNDP, 1990). Và để làm được điều đó, theo các chuyên gia của UNDP “điều quan trọng là phải giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng trên mọi khía cạnh của PTCN” (UNDP, 1990), thực hiện sự trao quyền cho những nhóm người dễ bị tổn thương đó. Trên cơ sở này, con người được tự do sống cuộc sống mà mình mong ước và được tự do giải quyết những vấn đề của bản thân một cách phù hợp. Hạnh phúc của con người phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tự do của môi trường sống cũng như khả năng đối phó và hồi phục của con người trước các tình huống bất lợi - từ tự nhiên hoặc do chính con người gây ra. Vì vậy để duy trì và bảo đảm cho sự PTCN thì chính phủ các nước nói riêng và nỗ lực của toàn cầu nói chung, một mặt, phải có những chính sách ngăn chặn những mối đe dọa, ứng phó những nguy cơ tổn thương đến con người; mặt khác, cần hình thành cho con người - đặc biệt là nhóm người dễ bị tổn thương - khả năng chống chịu và phục hồi nhanh chóng. Có thể nói đây là tư tưởng thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc nhất của UNDP trong triết lý PTCN. Nó làm nên sức hấp dẫn ở lý thuyết PTCN cũng như nhanh chóng nhận được sự đồng thuận của cộng đồng thế giới trong phương pháp tiếp cận có lẽ là vì vậy.

Bốn là, phát triển con người bền vững

Trong hơn hai thập kỷ qua, những lo ngại cho PTCN bền vững luôn được nhấn mạnh trong các Báo cáo PTCN của UNDP. Báo cáo năm 1994 đã nêu rõ nguyên tắc cơ bản về PTCN bền vững là: Mục tiêu của phát triển là tạo ra một môi trường trong đó tất cả mọi người đều có thể nâng cao năng lực của mình và tạo ra được thêm nhiều cơ hội cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Trong Báo cáo PTCN 1995, UNDP xác định bốn thành tố của sự PTCN bền vững là: tăng cường năng lực và sức khỏe (nâng cao thể chất, năng lực tinh thần - thông qua việc giáo dục, nâng cao trình độ, kỹ năng. Chỉ khi có năng lực, con người mới có khả năng tận dụng các cơ hội và sử dụng hiệu quả các cơ hội đó. UNDP coi đây là yếu tố quan trọng nhất bảo đảm cho PTCN bền vững); chia sẻ công bằng nguồn lợi (tạo sự công bằng trong tiếp cận cơ hội cho tất cả mọi người, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội); sự phát triển của hiện tại không gây tác động tiêu cực đến thế hệ tương lai (xét cả về môi trường tự nhiên, xã hội, văn hóa, nguồn lực tự nhiên,…); cơ hội tham gia vào sự phát triển (mọi người đều có cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sự tham gia của họ có sự tác động tích cực đối với sự chuyển biến các hoạt động đó). Đến Báo cáo PTCN 2011, UNDP đưa ra khái niệm “Phát triển con người một cách bền vững là việc mở rộng các quyền tự do hiện có của con người ngày hôm nay, đồng thời nỗ lực một cách hợp lý để tránh phải thỏa hiệp nghiêm trọng quyền tự do của các thế hệ tương lai” (UNDP, 1990). Trong một diễn đàn cấp cao tại Hội nghị Liên hợp quốc về phát triển bền vững diễn ra ngày 20/6/2012 tại Rio de Janeiro (Brazil), UNDP đã đưa ra khái niệm nền tảng cho một tương lai mới - “Chỉ số Phát triển con người bền vững”. Chỉ số này sẽ ghi nhận chi phí PTCN với các thế hệ tương lai. Tổng giám đốc của UNDP - bà Helen Clark cho rằng, “công bằng, phẩm giá, hạnh phúc và bền vững là rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, song lại chưa thấy có mặt trong GDP. Do đó, chỉ số về phát triển bền vững của con người cần phải được định nghĩa và đo lường một cách thấu đáo hơn trong quá trình phát triển chung của xã hội”7. Trong bài trình bày trước diễn đàn Rio, ông Khalid Malik - Giám đốc Văn phòng Báo cáo PTCN toàn cầu - đã xem xét lại các lợi thế cũng như thách thức khi đánh giá mức độ bền vững trên quan điểm PTCN và dựa vào HDI. Điều này phản ánh nhận thức về PTCN là công bằng giữa các thế hệ, với nguyên tắc lựa chọn hôm nay không được hạn chế lựa chọn cho thế hệ mai sau. Các chuyên gia của UNDP nêu ra hai nhân tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến PTCN bền vững, đó là vấn đề môi trường, biến đổi khí hậuvấn đề bất bình đẳng trong xã hội.

Phương pháp đánh giá mức độ bền vững dựa vào HDI lấy con người làm trung tâm cũng đưa vào ý tưởng giới hạn của hành tinh, cho thấy mức độ biến đổi khí hậu nói riêng đã gây ra những nguy cơ nghiêm trọng lâu dài cho PTCN và cao nhất là ở các quốc gia nghèo và các cộng đồng nghèo. Trong một bài phát biểu khác, bà Helen Clark cũng nhấn mạnh đến điều này. Nếu cách thức phát triển mà cả nước giàu và nước nghèo đều làm là phá hoại các hệ sinh thái mà sự sống trên hành tinh này phụ thuộc, thì những bất lợi sẽ rơi vào những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất, những người sống phụ thuộc nhiều nhất vào tự nhiên trong việc mưu sinh (Helen Clark, 2012). Liên minh Bảo tồn thế giới (IUCN) cho rằng, “tình trạng dễ bị tổn thương là một loạt các điều kiện tác động bất lợi ảnh huởng đến khả năng của một cá nhân, hộ gia đình hoặc một cộng đồng trong việc phòng ngừa và ứng phó với một hiểm họa, và những ảnh huởng của biến đổi khí hậu dẫn đến những tổn thất và thiệt hại mà họ có thể gặp phải”8. Những áp lực môi trường còn làm cho việc giảm đói nghèo và xóa bất bình đẳng trong quá trình phát triển tạo nên khó khăn hơn. “Các hiện tượng thời tiết tàn phá thường xảy ra cùng những thảm họa tự nhiên khác đang kéo lùi tiến bộ phát triển”9. UNDP khẳng định: “Sự xuống cấp của môi trường làm thui chột năng lực của con người theo nhiều cách khác nhau, vượt xa khỏi các khía cạnh thu nhập, sinh kế và bao gồm các tác động với y tế, giáo dục và các khía cạnh khác của đời sống” (UNDP, 1990). 

Tại Hội nghị cấp cao về Đối ngoại Đa phương trong Thế kỷ 21 - Khuyến nghị cho Việt Nam (12/8/2014), yếu tố bất bình đẳng trong việc PTCN bền vững cũng đã được đề cập sâu sắc. Theo đó, bất bình đẳng lan rộng cũng là một quan ngại toàn cầu. Bất bình đẳng về thu nhập, tài sản như đất đai, hay bất bình đẳng trong tiếp cận với các dịch vụ công như giáo dục, y tế, tín dụng và bảo trợ xã hội xuất hiện không chỉ ở nội tại các quốc gia mà còn ở quy mô vùng… Và “không mấy quốc gia có thể tránh được sự gia tăng về bất bình đẳng - trở thành mối đe dọa thật sự với sự PTCN và tiến bộ của các quốc gia”10.

Bất bình đẳng ảnh hưởng đến tất cả các mục tiêu phát triển khác thông qua việc cản trở tăng trưởng, làm chậm tốc độ giảm nghèo, và góp phần gia tăng bạo lực cũng như bất ổn xã hội, chính trị. “Thời đại chúng ta đang chứng kiến nghịch lý trong một thế giới thừa thãi, nghèo đói cùng cực kinh niên và bất bình đẳng”11, bên cạnh đó là nạn khủng bố, buôn người, bệnh tật như H7N9, Ebola,… Trong những vấn đề bất bình đẳng, có thể nói bất bình đẳng về kinh tế và bất bình đẳng giới là hai nguyên nhân cơ bản cản trở sự PTCN.

Trước những thảm họa của môi trường hoặc những tác động tiêu cực của nền kinh tế, thì những người nghèo, các nhóm người yếu thế bao giờ cũng phải hứng chịu những tổn thương nhiều nhất và khả năng phục hồi của họ cũng rất chậm. Về bình đẳng giới, Ngân hàng thế giới (Worldbank) cho rằng, nó quan trọng đối với sự phát triển, vì hai lý do: “Thứ nhất, bình đẳng giới bản thân nó đã có sẵn ý nghĩa, vì việc phải sống cuộc đời mỗi người theo lựa chọn của bản thân mà không phải chịu những sự tước đoạt vô lý chính là một quyền con người cơ bản và giữa mọi người phải có sự bình đẳng, cho dù là nam hay nữ. Thứ hai, bình đẳng giới có ý nghĩa về mặt phương tiện, vì bình đẳng giới càng cao thì càng tăng hiệu quả kinh tế và đạt được những mục tiêu phát triển quan trọng khác nhiều hơn” (UNDP, 1990). Hiện tại có hơn 100 quốc gia (trong số 136 quốc gia tham gia WB vào năm 2012), đã quy định, bảo vệ quyền bình đẳng nam nữ trong Hiến pháp và pháp luật. Những thành tựu trong công cuộc giải phóng phụ nữ là to lớn trong mấy thập niên trở lại đây. Mức độ tự do mà họ có được biểu hiện ở quyền được học hành, được chăm sóc sức khỏe, tham gia đời sống chính trị xã hội, có việc làm và được tôn trọng. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới trong thực tế vẫn còn rất sâu sắc ở nhiều quốc gia. Tỉ lệ phụ nữ tử vong trong quá trình sinh đẻ ở vùng Hạ Xahara châu Phi và một số khu ở Nam Á vẫn cao ngang với mức của khu vực Bắc Âu hồi thế kỷ 19. Trẻ em giàu thành thị ở Ni-giê-ri-a, cả nam và nữ số năm đi học trung bình là 10 năm, trong khi trẻ em gái nghèo nông thôn ở Hausa chỉ đi học trung bình 6 tháng. Tỉ lệ tử vong ở nữ giới so với nam giới ở các nước thu nhập thấp và trung bình bao giờ cũng cao hơn so với các nước có thu nhập cao (UNDP, 1990). Nếu PTCN là quá trình mở rộng quyền tự do cho con người thì bình đẳng giới là một trong những mục tiêu trọng tâm cần thực hiện.

 Những điều kiện mới của thời đại và của khoa học ngày nay đã cho phép UNDP đưa ra những cách thức đo lường và giải pháp trên thực tiễn để đánh giá và cải thiện trình độ PTCN của các quốc gia. Cách tiếp cận đa chiều của UNDP khá toàn diện, vừa lý tưởng vừa thực tế trong nghiên cứu vấn đề PTCN. Ngày nay, khi nói đến PTCN, trên các diễn đàn học thuật cũng như các cộng đồng quốc gia thuộc Liên hợp quốc đều thừa nhận quan điểm của UNDP, lấy đó là quan điểm chi phối trong tiếp cận nghiên cứu các vấn đề xã hội. Trong thực tế, việc thực hiện chiến lược PTCN của các quốc gia còn rất nhiều khó khăn, phức tạp và nhiều nhân tố khách quan chi phối, như vấn đề an ninh con người, vấn đề nghèo đói, vấn đề bình đẳng trên thực tế, vấn đề tự do trong tiếp cận cơ hội,… Do vậy, việc hiện thực hóa triết lý con người là trung tâm và cải thiện chỉ số PTCN rõ ràng là nhiệm vụ lâu dài và cấp thiết đòi hỏi sự chung tay của cả cộng đồng.

       Tài liệu tham khảo

  1. Tịnh Chi (CORENARM lược dịch và tổng hợp), “Tình trạng dễ bị tổn thương của các dân tộc bản địa với biến đổi khí hậu”,  http://www.corenarm.org.vn/?pid=93&id=579.
  2.  Lương Đình Hải, Mai Quỳnh Nam (2014) (đồng chủ biên), Viện nghiên cứu con người một số kết quả nghiên cứu, Nxb. Khoa học Xã hội.
  3. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Đã dịch sang Tiếng Việt, Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb. Lao động - xã hội.
  4. Nguyễn Thị Lê (2014), “Phát triển con người trên thế giới: Khái niệm và đo lường”, Tạp chí Nghiên cứu Con người, Số 1, Tr.25 - 33.
  5. Trịnh Thị Kim Ngọc (2008), “Phát triển con người qua phân tích quan điểm “phát triển là quyền tự do” của Amartya Sen”, Tạp chí Nghiên cứu Con người, Số 5, Tr 53 - 61.
  6. Hồ Sĩ Quý (2005), “Phát triển con người Việt Nam qua các báo cáo thường niên về phát triển con người của UNDP”, Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội, Số 4, Tr.19 -27.
  7. Hồ Sĩ Quý (2007), Con người và phát triển con người, Nxb. Giáo dục.
  8. Minh Trang (dịch, 2013), “Amartya Sen: Sự phát triển bị giam hãm”, http://www.thepach.com/vi/amartya-sen-su-phat-trien-bi-giam-ham-phan-i/.
  9.  Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (1999), Phát triển con người - từ quan niệm đến chiến lược hành động, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  10. Amartya Sen (2002), Phát triển là quyền tự do, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
  11.  UNDP, Tóm tắt Báo cáo phát triển con người 2010, “Của cải thực sự của quốc gia: Đường đi tới phát triển con người”, http://hdr.undp.org/en/reports/.
  12.  UNDP, Tóm tắt Báo cáo phát triển con người 2011, “Bền vững và công bằng: Một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người”, http://hdr.undp.org/en/reports/.
  13.  UNDP, “Ngoài GDP, UNDP đề xuất biện pháp phát triển con người bền vững”, http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/presscenter/articles/2012/06/20/going-beyond-gdp-undp-proposes-human-development-measure-of-sustainability.
  14.  UNDP, Tóm tắt Báo cáo phát triển con người 2014, “Duy trì thành quả phát triển con người: Giảm thiểu nguy cơ tổn thương và tăng cường khả năng chống chịu, phục hồi”, http://hdr.undp.org/en/reports/.
  15.  WorldBank, “Tổng quan Báo cáo phát triển thế giới 2012: Bình đẳng giới và phát triển”,http://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/COUNTRIES/EASTASIAPACIFICEXT/EXTEAPREGTOPSOCDEV/0,,contentMDK:23068982~menuPK:502946~pagePK:64215727~piPK:64215696~theSitePK:502940,00.html.
  16.  Helen Clark (2012), “Achieving Sustainable Human Development”, http://www.undp.org/content/undp/en/home/presscenter/speeches/2012/05/29/helen-clark-achieving-sustainable-human-development-.html.
  17.  HDRO (2015), “What is Human Development?”, http://hdr.undp.org/en/content/what-human-development.
  18. Pratibha Mehta, Bài phát biểu tại Hội nghị cấp cao về Đối ngoại Đa phương trong Thế kỷ 21 - Khuyến nghị cho Việt Nam, http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/presscenter/speeches/2014/08/12/speech-by-ms-pratibha-mehta-un-resident-coordinator-and-undp-resident-representative-vietnam-at-high-level-conference-on-multilateral-diplomacy-in-the-21st-century-recommendations-for-viet-nam.html.
  19.  Selim Jahan (2015), “The Human Development Index - what it is and what it is not”, http://hdr.undp.org/en/hdi-what-it-is.
  20.  UNDP, Human Development Report 1990 -2014, http://hdr.undp.org/en/reports/.

 

 


* ThS.; Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên.

1 Minh Trang (dịch, 2013), “Amartya Sen: Sự phát triển bị giam hãm”, http://www.thepach.com/vi/amartya-sen-su-phat-trien-bi-giam-ham-phan-i/.

2 Minh Trang (dịch, 2013), “Amartya Sen: Sự phát triển bị giam hãm”, http://www.thepach.com/vi/amartya-sen-su-phat-trien-bi-giam-ham-phan-i/.

3 Minh Trang (dịch, 2013), “Amartya Sen: Sự phát triển bị giam hãm”, http://www.thepach.com/vi/amartya-sen-su-phat-trien-bi-giam-ham-phan-i/.

4 Minh Trang (dịch, 2013), “Amartya Sen: Sự phát triển bị giam hãm”, http://www.thepach.com/vi/amartya-sen-su-phat-trien-bi-giam-ham-phan-i/.

6 Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Đã dịch sang Tiếng Việt, Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb. Lao động - xã hội.

7UNDP, “Ngoài GDP, UNDP đề xuất biện pháp phát triển con người bền vững”, http://www.vn.undp.org/content/vietnam/vi/home/presscenter/articles/2012/06/20/going-beyond-gdp-undp-proposes-human-development-measure-of-sustainability.

8 Tịnh Chi (CORENARM lược dịch và tổng hợp), “Tình trạng dễ bị tổn thương của các dân tộc bản địa với biến đổi khí hậu”,  http://www.corenarm.org.vn/?pid=93&id=579.