Đảm bảo an sinh xã hội vì mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam: Định hướng mô hình và giải pháp

28/08/2014

ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI VÌ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM:

ĐỊNH HƯỚNG MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP

ĐẶNG NGUYÊN ANH *

  Mở đầu

An sinh xã hội (ASXH) theo nghĩa rộng là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội. Theo nghĩa hẹp, khái niệm ASXH là sự bảo đảm thu nhập và điều kiện sống thiết yếu cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch họa.

Ở Việt Nam, ASXH trở thành một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống các chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng. ASXH là nhân tố đảm bảo công bằng xã hội. Thực tiễn phát triển đã cho thấy ASXH có vai trò rất lớn trong việc khắc phục những hệ lụy của phân hóa xã hội, tăng cường gắn kết xã hội, sự đồng thuận và đảm bảo ổn định chính trị.

Tuy nhiên, hệ thống ASXH của Việt Nam hiện nay chưa phát triển tương xứng với đà phát triển của xã hội, và so với đổi mới tư duy về mô hình kinh tế, việc đổi mới tư duy về mô hình ASXH và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh còn chậm và thiếu bền vững. Ở nước ta, ASXH vẫn được coi là trách nhiệm của Nhà nước, chưa thu hút được các thành phần kinh tế, các chủ thể và nguồn lực khác cho công tác này, xã hội hóa kém, điều kiện và năng lực tự vươn lên của người dân còn thấp. Trong khi đó, nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước nhằm thực hiện ASXH còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách công, với diện che phủ thấp, tỉ lệ tham gia thấp và mức hưởng thấp. Các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân và chưa đổi mới để theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường.

Bên cạnh đó, công tác ASXH đang bộc lộ những thiếu hụt khi các dịch vụ cơ bản không còn được bao cấp như trước. Việc học hành, khám chữa bệnh, nhà ở, đi lại, việc làm,… đều đòi hỏi phải trả tiền và đóng phí. Tuy nhiên, chất lượng các dịch vụ xã hội nhìn chung còn thấp, vẫn còn không ít tiêu cực, phiền hà và rào cản đối với người dân trong việc tiếp cận các dịch vụ này. Trong khi đó, nhiều rủi ro rình rập như đau ốm, tai nạn, thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, luôn là những cú sốc đối với người nghèo, các nhóm yếu thế, đe dọa tính mạng và ASXH của người dân. Nhiều nhóm dân cư không có khả năng ứng phó trước những rủi ro do thiên tai và biến động kinh tế - xã hội (hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc, lao động di cư, trẻ em nghèo, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, người già cô đơn, người khuyết tật, người có HIV/AIDS,…).

 Trước yêu cầu nói trên, nghiên cứu xây dựng mô hình và định hướng chính sách ASXH ở Việt Nam là hết sức cấp thiết, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển bền vững, tiến tới việc hoàn thiện mô hình ASXH ở nước ta trong những điều kiện và thách thức mới của bối cảnh quốc tế.

1. Chức năng và các nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội

Hệ thống ASXH có ba chức năng cơ bản là: i) Phòng ngừa rủi ro ii) Giảm thiểu rủi ro và iii) Khắc phục rủi ro. Các chức năng này không loại trừ nhau mà bổ sung, hỗ trợ cho nhau nhằm mục đích Quản lý rủi ro. Trên thực tế, mô hình ASXH mang tính đan xen cả ba chức năng.

-  Phòng ngừa rủi ro: Chức năng phòng ngừa rủi ro là chức năng quan trọng hàng đầu của hệ thống ASXH. Chức năng này đòi hỏi việc bảo vệ toàn bộ các thành viên trong xã hội có được việc làm, thu nhập, sinh kế ổn định và hơn nữa có khả năng hạn chế được rủi ro và tự bảo vệ mình trước rủi ro.

-  Giảm thiểu rủi ro: Là chức năng cơ bản thứ hai của ASXH, giữ vai trò quan trọng sau khi rủi ro xảy ra. Đây là chức năng ứng phó và tạo sức bật cho các đối tượng bị tác động rủi ro. Các hình thức trợ giúp chủ yếu dưới dạng “vô điều kiện” hơn là “có điều kiện” và mang tính phúc lợi nhiều hơn là quan hệ thị trường.

-  Khắc phục rủi ro: Là chức năng thứ ba của ASXH nhằm mục đích bảo vệ an toàn cho người dân khi họ gặp phải rủi ro mà không thể khắc phục được, nhằm giúp họ không bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng hóa. Đây được coi là “phao cứu sinh” tạm thời nhằm mục đích tạo ra sức bật cho các đối tượng tham gia khôi phục cuộc sống và hòa nhập vào cộng đồng sau khi rủi ro xảy ra.

Về các nguyên tắc ASXH, mặc dù các mô hình ASXH của các quốc gia có thể khác nhau song hệ thống ASXH đều được tổ chức và vận hành dựa trên hai nguyên tắc: 1) nguyên tắc đóng - hưởng và 2) nguyên tắc không đóng góp (mà dựa vào sự trợ giúp của nhà nước và cộng đồng).

Nguyên tắc đóng - hưởng là hình thức ASXH mà người lao động tham gia vào hệ thống phải đóng góp tài chính thông qua sự tích lũy vào các qũy ASXH để có thể hưởng trợ cấp an sinh khi hết tuổi lao động hoặc khi phải chịu những rủi ro trong cuộc sống. Trụ cột bảo hiểm dựa trên nguyên tắc đóng góp này.

ASXH không đóng góp là nguyên tắc mà người tham gia vào hệ thống không phải đóng góp tài chính. Tương ứng với nguyên tắc này là trụ cột trợ giúp hay bảo trợ xã hội. Đây là sự bảo đảm, trợ giúp của nhà nước, của cộng đồng và người dân cho những đối tượng bị lâm vào cảnh bần cùng, không có khả năng tự lo liệu cuộc sống thường nhật của bản thân và gia đình.

2.  Tìm hiểu một số mô hình an sinh xã hội trên thế giới

Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế về xây dựng hệ thống ASXH. Có thể tóm tắt những mô hình ASXH này như sau:

 i) Mô hình an sinh Xã hội chủ nghĩa, tiêu biểu là Liên xô cũ, hoặc các nước Đông Âu trước đây, đặc trưng là Nhà nước bao cấp toàn bộ ASXH với nguyên tắc cơ bản là bình quân phân phối. Mô hình này hướng vào khắc phục rủi ro thông qua hoạt động trợ giúp/bảo trợ xã hội.

ii) Mô hình ASXH của Tây Âu trong chừng mực nhất định có tính định hướng, theo đó, Nhà nước bảo đảm an sinh cho người dân dựa trên nguồn thuế đóng góp của toàn xã hội vào ngân sách nhà nước; Chức năng phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro được nhấn mạnh, vận hành theo nguyên tắc minh bạch. Tính nhân văn của mô hình ASXH Tây Âu rất cao. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là khá tốn kém về tài chính và có sự lo ngại khả năng bền vững của mô hình khi cơ cấu dân số châu Âu đã trở nên già cỗi và các dòng người nhập cư gia tăng.

iii) Mô hình của Hoa Kỳ theo nguyên tắc đóng - hưởng trên cơ sở hệ thống bảo hiểm nhằm đảm bảo tài chính cho ASXH, nhưng quá hướng vào cá nhân và thị trường. Mô hình này khó đạt được sự công bằng trong ASXH, nhất là trong lĩnh vực y tế, khám chữa bệnh.

iv) Ở châu Á, Nhật Bản dựa trên phương thức truyền thống với vai trò quan trọng của các công ty, các tập đoàn kinh tế lớn với chế độ làm việc suốt đời. Đây là mô hình nhấn mạnh chức năng phòng ngừa và khắc phục rủi ro theo định hướng phát huy vai trò tập thể và chế độ bảo hiểm suốt đời. Trong nhiều thập niên, phúc lợi xã hội của người dân Nhật Bản đứng vào loại cao trên thế giới, song cũng như Đức, Pháp, Ý, mô hình này tỏ ra kém bền vững trong bối cảnh dân số già đang là gánh nặng đối với Nhật Bản.

v) Mô hình ASXH của Hàn Quốc huy động được nhiều chủ thể (Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, cộng đồng, gia đình, các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận,…) tham gia. Mô hình này kế thừa được những ưu điểm của các nước đi trước, kết hợp công tư, hướng vào chức năng giảm thiểu rủi ro và chú trọng đầu tư cao (10% GDP) ưu tiên phát triển các dịch vụ phúc lợi xã hội dành cho người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và phúc lợi gia đình. Đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu cho người nghèo và những ai không có khả năng tự kiếm sống. Tuy nhiên, hiện nay Hàn Quốc cũng đang phải ứng phó với tỉ lệ sinh rất thấp, già hóa dân số nhanh và những vấn đề xã hội mới nảy sinh (tự tử, thất nghiệp cơ cấu, gia đình đa văn hóa).

vi) Mô hình ASXH của Ấn Độ chú trọng lương hưu công chức, mặc dù độ che phủ ASXH còn thấp, tỉ lệ người lao động tham gia chưa nhiều, đặc biệt là các đối tượng tự nguyện. Vận hành cho hệ thống ASXH chủ yếu do ngân sách Chính phủ liên bang và đóng góp của các doanh nghiệp. Chính phủ quy định mỗi dự án xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng phải trích 1% tổng kinh phí để thành lập Qũy phúc lợi cho người lao động, đảm bảo ASXH bằng qũy này.

vii) Mô hình ASXH của Trung Quốc khá giống với Việt Nam, bao gồm ba hợp phần là: Hệ thống bảo hiểm xã hội (với 5 loại: bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cơ bản, bảo hiểm thai sản, và bảo hiểm tai nạn lao động); Hệ thống phúc lợi xã hội mà chủ yếu là các hoạt động cứu trợ, cứu tế, trợ cấp cho người dân. Mô hình ASXH của Trung Quốc tuy đã được thị trường hóa song ở một chừng mực nhất định vẫn còn một số yếu tố bao cấp từ mô hình trước đây.

   Tuy nhiên, khác với Việt Nam, bảo hiểm y tế ở Trung Quốc đã đạt mức che phủ toàn dân từ năm 2010. Luật ASXH được thông qua và chính thức thực hiện từ ngày 1/7/2011 là một bước ngoặt lớn. Bảo hiểm hưu trí cho nông dân (địa bao) là một đột phá mới được áp dụng trong mô hình ASXH Trung Quốc, theo đó, người nông dân được hưởng trợ cấp hưu trí khi về già. Đây là cốt lõi của mô hình ASXH của Trung Quốc. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ yếu kém là một khó khăn, thách thức ở quốc gia này. Hơn nữa, với dân số đông, diện tích trải dài, bất bình đẳng lớn, xung đột xã hội gia tăng nên không phải địa phương nào cũng thực hiện được các hoạt động ASXH.

  Xem xét các mô hình ASXH của các quốc gia phát triển cho thấy xu hướng chung trên thế giới là ASXH đều hướng tới việc bảo đảm an toàn cho các công dân và các nhóm nghèo, yếu thế. Mặc dù khác nhau về cách tiếp cận nhưng các mô hình ASXH của các nước đều có ý tưởng chung khuyến khích sự tham gia của người dân và doanh nghiệp vào các hoạt động an sinh. Thực hiện chế độ bảo hiểm suốt đời cho công dân là một ưu việt, mặc dù có thể khó theo đuổi đối với các nước nghèo như Việt Nam. Nhà nước chỉ đóng vai trò trong việc tạo ra khung khổ luật pháp về an sinh, còn việc điều hành trực tiếp các hoạt động sẽ làm sự chủ động tham gia vào hệ thống này. Mô hình ASXH của các quốc gia trên thế giới đều hướng theo nguyên tắc đóng - hưởng, lấy số đông bù cho số ít, trong đó sự bao cấp của nhà nước là cần thiết nhưng có giới hạn. Nếu được quản lý chặt chẽ, minh bạch thì sẽ bền vững. 

 3.  Thực trạng một số vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội từng bước và trong từng chính sách phát triển là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 - 2020 của Việt Nam đã nêu rõ: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế” (Viện Khoa học lao động và xã hội, 2009). Chiến lược nhấn mạnh việc phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm, như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm; thực hiện tốt các chính sách ưu đãi và không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công; mở rộng các hình thức cứu trợ đối với các đối tượng khó khăn. Đương nhiên, để có được một mô hình ASXH hiệu quả thì cần cả một quá trình lâu dài. Các quốc gia phát triển ở Tây Âu như Đức, Pháp, Thụy Điển phải mất hàng trăm năm mới có được hệ thống ASXH tiên tiến và phát triển hoàn thiện như ngày nay.

Tuy nhiên, các hoạt động an sinh còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và liên kết trong quá trình triển khai thực hiện. Hệ thống ASXH nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, diện bao phủ còn hẹp, một bộ phận người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, mức hỗ trợ còn thấp, kết quả đạt được trong bảo đảm ASXH chưa bền vững. Có thể nhận thấy qua thực trạng giảm nghèo chưa bền vững, tỉ lệ cận nghèo và tái nghèo còn rất cao, tỉ lệ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số không có xu hướng giảm. Bất bình đẳng xã hội và phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn giữa các nhóm dân cư. Nghịch lý hiện nay là tỉ lệ che phủ của bảo hiểm tự nguyện còn thấp trong khi rủi ro, bất trắc ngày càng gia tăng trong cuộc sống mà không được bảo hiểm.

Đặc thù của mô hình ASXH ở Việt Nam hiện nay là các hoạt động do Nhà nước bao cấp và thực hiện. Nhà nước đảm nhiệm hai chức năng: vừa là người ban hành chính sách vừa là người thực hiện chính sách thông qua bộ máy của mình. Ở địa phương, cán bộ chính quyền vừa xét duyệt đối tượng trợ giúp xã hội, vừa thực hiện việc chi trả trợ cấp. Việc xác định đối tượng ASXH hiện dựa vào quá nhiều tiêu thức khác nhau và thiếu thống nhất: lúc thì dựa vào vùng miền nơi cư trú, khi thì dựa vào điều kiện kinh tế, thu nhập, lúc thì dựa vào độ tuổi, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, khi thì lại dựa vào tình trạng việc làm,... Những phương thức trên dẫn đến sự trùng chéo và lãng phí nguồn lực, không hiệu quả trong hoạt động ASXH.

Nhận thức của các cấp chính quyền địa phương và người dân về ASXH nói chung còn hạn chế. Đây không được coi là lĩnh ưu tiên trong chính sách và thực tiễn. Nhiều hiện tượng không bình thường diễn ra phổ biến (ví dụ: bệnh viện công, khám chữa bệnh tư, khám chữa bệnh dưới danh nghĩa nhà nước, thậm chí ngay trong bệnh viện lớn của nhà nước, trang thiết bị do tư nhân đầu tư không đảm bảo chất lượng, câu chuyện nhân bản xét nghiệm, cấp trùng hơn 1 triệu thẻ bảo hiểm y tế diễn ra ngay trong các cơ sở y tế nhà nước).

Nguồn lực tài chính để thực hiện ASXH chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước bị hạn chế, sự đóng góp của người dân là rất ít. Người dân vẫn chưa ý thức được nguyên tắc có đóng - có hưởng trong hoạt động bảo hiểm. Mức độ che phủ, đóng góp và mức hưởng đều thấp. Các loại hình bảo hiểm xã hội còn hạn chế, chưa đa dạng hóa, thủ tục thanh toán còn nhiều trở ngại, tỉ lệ tham gia không cao. Người dân chưa mặn mà với bảo hiểm y tế do chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng tham gia.

Mức độ trợ giúp xã hội thường xuyên so với dân số và so với đối tượng bảo trợ xã hội còn thấp, mới chiếm khoảng 1,5% dân số và 9% diện đối tượng cần được bảo vệ. Hầu hết những biện pháp cứu trợ của nhà nước đến chậm. Khi xảy ra thiên tai, tai nạn cần rất nhiều thời gian để phản ứng kịp và khắc phục hậu quả. Nhiều trường hợp để xảy ra tử vong rồi mới phản ứng, hỗ trợ, chỉ đạo,… Lưới ASXH nước ta chưa che phủ được khu vực kinh tế phi chính thức, trong khi đây là khu vực thu hút hàng chục triệu lao động phổ thông và là nguồn sinh kế cho những nhóm thu nhập thấp, dễ bị tổn thương. Tình trạng làm việc không có bảo hiểm, không hợp đồng diễn ra phổ biến tại khu vực này.

Các doanh nghiệp và chủ sử dụng lao động trốn tránh, nợ đọng và chây ì đóng bảo hiểm xã hội còn phổ biến và kéo dài trong nhiều năm qua. Hiện có tới 60% doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm xã hội và 30% nợ bảo hiểm xã hội. Hoạt động của Qũy bảo hiểm xã hội chưa bền vững, thiếu minh bạch, nguy cơ vỡ qũy trong tương lai gần là khó tránh khỏi. Tiền lương tăng về số lượng nhưng tiền lương thực tế không tăng, thậm chí giảm do giá cả sinh hoạt leo thang và sức mua của đồng nội tệ yếu đi. Không thể coi nhẹ thách thức già hóa dân số, khi Việt Nam đã chính thức bước sang giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011. Số người từ 65 tuổi trở lên chiếm 7 - 8% dân số. Bình quân mỗi năm có 600 nghìn người bước vào tuổi già. Tốc độ già hóa dân số và gánh nặng kinh tế - xã hội của quá trình này chắc chắn gây áp lực lên hệ thống ASXH và do đó phải có những sự chuẩn bị và ứng phó thích hợp. Ngay từ bây giờ, Việt Nam cần chuẩn bị cho thách thức của dân số già.

Các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch,… mà bất kỳ cá nhân hay hộ gia đình nào cũng cần đến trong cuộc sống hàng ngày còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, nhất là tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, lại bị phân tán về nguồn lực nên việc phối hợp với hệ thống ASXH không thực sự hiệu quả. Người dân gặp rất nhiều khó khăn và rào cản khi xin việc làm, xin học hay khám chữa bệnh. Xã hội thiếu tin tưởng vào chất lượng y tế, giáo dục và việc làm hiện nay, càng làm cho các dịch vụ có chất lượng trở nên khan hiếm, khó tiếp cận do chi phí cao, rào cản lớn. Do đó, lòng tin của người dân vào các dịch vụ xã hội, bảo hiểm y tế bị giảm sút, quyền lợi của người dân khi tham gia bảo hiểm y tế bị vi phạm nghiêm trọng.

Trong lúc những biện pháp bảo vệ của hệ thống ASXH còn hạn chế trên thực tế thì người dân chỉ có thể dựa vào sự trợ giúp của gia đình. Cơ chế bảo trợ truyền thống thông qua sự hỗ trợ của gia đình, dòng họ và cộng đồng mỗi khi gặp rủi ro, khó khăn. Tuy nhiên, sự biến đổi của các giá trị đạo đức, cấu trúc gia đình, tình trạng rạn nứt trong mối quan hệ dòng họ, mâu thuẫn gia đình và xung đột cộng đồng gia tăng trong khi khả năng chia sẻ rủi ro và hỗ trợ lẫn nhau ngày càng trở nên hạn chế. Giá trị san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội đang bị coi nhẹ. Mô hình bảo trợ xã hội truyền thống dựa vào gia đình, thân tộc và cộng đồng bị suy yếu nhiều trong khi chưa được thay thế bởi một mô hình ASXH mới, phù hợp với xã hội hiện đại.

5.  Quan điểm và giải pháp về an sinh xã hội ở Việt Nam

Việt Nam cần định hướng phát triển hệ thống ASXH toàn diện với các chức năng phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, hướng đến bao phủ toàn dân, bảo đảm mức sống tối thiểu, trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế, nhất là người nghèo, người di cư, đồng bào dân tộc.

5.1. Quan điểm

i) ASXH có vai trò không chỉ đơn thuần là giải pháp bồi thường và khắc phục khó khăn cho đối tượng, mà là đầu tư vào phát triển con người. Mô hình ASXH của nước ta trong giai đoạn 10 năm tới cần thể hiện rõ mục tiêu phát triển vì con người, coi trọng quyền ASXH. Mục tiêu cơ bản là nâng cao độ che phủ ASXH, bảo đảm cho mọi người dân đều có quyền tham gia và hưởng lợi; chia sẻ lợi ích và nâng cao trách nhiệm cá nhân. Mô hình ASXH của Việt Nam cần trở thành phương tiện phòng tránh và bảo vệ từng cá nhân trước những rủi ro và sự yếu thế, đồng thời đáp ứng được những trụ cột ASXH cần có mà các quốc gia trên thế giới đều xây dựng.

ii) Mô hình ASXH ở nước ta cần hướng vào mục tiêu đảm bảo cho mọi người dân có mức sống trung bình, ổn định mức sống, tránh không rơi vào tình trạng bần cùng hóa, kể cả trong hoàn cảnh rủi ro bất thường, hạn chế những cú sốc trong phát triển kinh tế - xã hội. Mọi người dân đều được tiếp cận ASXH, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc công bằng và bền vững, lấy con người làm trung tâm của mô hình này.

iii) Chú trọng đảm bảo ASXH cho những đối tượng yếu thế, để đảm bảo mọi người đều bình đẳng và không bị loại trừ về ASXH. Đây chính là sự thực hiện quyền ASXH đã được Hiến pháp năm 2013 quy định. Hiến pháp đã quy định rõ ràng công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội (Điều 34, Chương II). Việc bảo vệ và hỗ trợ các nhóm xã hội đặc thù (trẻ em, thanh niên, người cao tuổi) được hiến định thành một điều chung (Điều 37). Việc thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe đối tượng yếu thế cũng đã được ghi rõ trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 58).

iv) Không thể coi nhẹ thách thức già hóa dân số (bình quân mỗi năm nước ta có 600 nghìn người bước sang tuổi 60). Hầu hết người cao tuổi đang tự tạo công ăn việc làm trong khu vực nông nghiệp với thu nhập thấp và không ổn định. Khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng giành cho người cao tuổi còn thấp. Trong khi đó, tuổi thọ khỏe mạnh của Việt Nam không cao, trung bình mỗi người cao tuổi ở Việt Nam phải chịu 14 năm bị bệnh tật trong tổng số 72 năm sống của mình. Các chương trình trợ giúp xã hội hiện chưa chú trọng nhiều đến người cao tuổi - đối tượng mà hầu hết không thể tham gia vào các chương trình này do các quy định nghiêm ngặt hoặc mức hưởng thấp. Gánh nặng dân số già cho gia đình và xã hội là rất lớn trong 30 - 40 năm tới. Ngay từ bây giờ, Việt Nam cần chuẩn bị cho thực trạng dân số già, chắc chắn sẽ gây áp lực lên hệ thống ASXH và do đó phải có những sự chuẩn bị và ứng phó thích hợp.

  5.2. Giải pháp        

  i) Chính sách ASXH phải được đặt ngang tầm với các chính sách kinh tế và phải được chú trọng ưu tiên phát triển đồng thời với phát triển kinh tế, phù hợp với khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ. Nâng cao nhận thức và thái độ của các nhà hoạch định chính sách ở các cấp và của toàn xã hội về các thách thức liên quan đến vấn đề ASXH, trong đó cần chú trọng vai trò của các hiệp hội, tổ chức chính trị, xã hội tự nguyện trong xây dựng và tuyên truyền để các chính sách và các chương trình ASXH được thiết kế phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của người dân.

  ii) Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện ASXH, nhưng không trực tiếp làm thay xã hội, cộng đồng. Tăng cường phân cấp để đề cao trách nhiệm và vai trò của cơ sở, địa phương. Thu gọn đầu mối và đơn giản hóa các thủ tục, phân cấp ngân sách, tăng cường vai trò của địa phương trong việc xây dựng và thực thi ASXH trọng tâm, trọng điểm, phải kết nối hiệu quả các chương trình, dự án giảm nghèo giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, và giữa các cấp, tránh tình trạng manh mún, phân mảng như hiện nay. Khuyến khích thực hiện chính sách ASXH dưới hình thức xã hội hóa. Đảm bảo tính bền vững, linh hoạt, tiết kiệm nguồn lực để có thể ứng phó với dân số già ở Việt Nam trong 30 - 40 năm tới.

      iii) Xác định thống nhất và rõ ràng đối tượng ASXH theo một tiêu chí thống nhất (ví dụ ở Mỹ chỉ dựa trên thu nhập cá nhân) và đúng đối tượng. Kết nối hiệu quả các chương trình, dự án giảm nghèo giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, giữa các cấp quản lý, tránh cách làm dàn hàng ngang rất thiếu hiệu quả như hiện nay. Khắc phục tình trạng chồng chéo, khó quản lý, hỗ trợ vô điều kiện, lãng phí nguồn lực trong công tác xóa đói, giảm nghèo và trợ giúp xã hội.

5.3. Các trụ cột an sinh xã hội cơ bản

i) Bảo hiểm xã hội (bao gồm cả bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp). Đây là phương thức ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia nhằm gia tăng số người tham gia, mở rộng đối tượng cho trụ cột ASXH này tham gia theo hướng xã hội hóa; từng bước thực hiện nguyên tắc đóng - hưởng trong ASXH, tránh bao cấp đại trà trong khi tăng cường đối tượng yếu thế. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về BHXH, BHYT để cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ ý nghĩa của trụ cột ASXH quan trọng này.

 ii) Trợ giúp/cứu trợ xã hội là trụ cột thứ hai nhằm khắc phục hậu quả của thiên tai, dịch bệnh, thảm họa, rủi ro không lường trước hoặc không thể lường trước được. Vì đây là trụ cột ASXH không có sự đóng góp của đối tượng thụ hưởng nên mang tính bao cấp về nguồn lực. Trợ cấp xã hội cho các đối tượng khó khăn là phương thức khả thi để mở rộng độ bao phủ của lưới ASXH. Đồng thời, thực hiện ưu đãi người có công và trợ giúp các đối tượng chính sách là một nội dung chủ yếu của hợp phần ASXH này. Tuy nhiên, việc nâng cao vai trò cộng đồng và trách nhiệm của địa phương trong việc thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng chính sách là rất cần thiết. Tăng cường hệ thống trợ giúp xã hội cùng với tăng trưởng kinh tế nhằm bảo đảm và nâng cao thu nhập cho người dân thông qua tạo việc làm và sinh kế.

 iii) Cung cấp hiệu quả các dịch vụ xã hội trên cơ sở nâng cao chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận cho người dân. Mục tiêu chính của một mô hình ASXH năng động là phát triển dịch vụ xã hội bền vững và dễ tiếp cận, không chỉ bao gồm dịch vụ bảo trợ mà còn các biện pháp phòng tránh rủi ro và hòa nhập cộng đồng tốt hơn. Dỡ bỏ các rào cản hiện nay khiến cho chính sách xã hội không đến được với người dân. Điều đó giúp giảm được chi phí quản lý, áp dụng một cơ chế quản lý chung cho các loại hình dịch vụ xã hội cơ bản, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, hướng tới hệ thống cung cấp dịch vụ đồng bộ hơn, hoạt động hiệu quả hơn. Xây dựng và sử dụng hiệu quả mô hình Qũy bảo trợ ở cộng đồng để tạo sự chủ động cho các địa phương khi xảy ra rủi ro, đây cũng là yêu cầu rất cấp thiết nhằm đảm bảo ASXH. Giải quyết tốt hơn hiệu quả của các chính sách hiện tại về ASXH ở cộng đồng.

 Về lộ trình triển khai thực hiện mô hình ASXH, có thể chia thành 2 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Cải cách mô hình và củng cố hệ thống với sự điều chỉnh linh hoạt các nguồn lực và sự tham gia rộng rãi của các chủ thể trong hệ thống ASXH. Đa dạng hóa các nguồn tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ và công tác thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT. Xác định đúng đối tượng ASXH, đối tượng trợ giúp xã hội. Áp dụng công nghệ thông tin nhằm quản lý hiệu quả chế độ trợ cấp, vận hành của các qũy bảo hiểm, quản lý nguồn lực hợp lý hơn và giám sát hiệu quả chất lượng hoạt động ASXH.

- Giai đoạn 2: Giảm dần sự bao cấp của Nhà nước và tăng cường sự đóng góp của người tham gia để hướng đến việc cân đối bền vững qũy. Đây cũng là giai đoạn tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về ASXH. Tập trung phát triển các trụ cột chính của mô hình ASXH trong mối quan hệ gắn kết với nhau, bao gồm chính sách trợ giúp xã hội nhằm đảm bảo mức sống, thu nhập tối thiểu cho người dân, chính sách BHXH và bảo hiểm y tế cho mọi đối tượng, chủ động ứng phó với những tác động của thị trường và biến đổi xã hội. Đây là những định hướng phát triển chính của mô hình ASXH ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

 

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2013), “An sinh xã hội ở Việt Nam: Định hướng mô hình và giải pháp”, Báo cáo tổng hợp Nhiệm vụ nghiên cứu cấp Bộ năm 2011-2013, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

2. Mai Ngọc Anh (2009), “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

3. Đặng Kim Chung (2010), “Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp”, Tham luận Hội thảo: “Chính sách, pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Uỷ ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội, Hà Nội.

4. Mai Ngọc Cường (2009), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. Nguyễn Hữu Dũng (2008), “Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, Số 155.

6. Vũ Văn Phúc (2012), “An sinh xã hội ở nước ta: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tham luận Hội thảo của Hội đồng Lý luận Trung ương về An sinh xã hội, Hà Nội, tháng 3/2012.

7. Nguyễn Danh Sơn (2011), “An sinh xã hội cho người nông dân”, Tham luận tại Hội thảo khoa học của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện KAS, CHLB Đức, Hà Nội.

8. Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2009), “Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ  2011 - 2020”, Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 19.

 


* PGS.TS.; Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.