Môi trường và sự phát triển của con người

28/08/2014

MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI

NGUYỄN TRỌNG CHUẨN *

1. Nhà triết học vĩ đại, người mở đầu nền triết học cổ điển Đức là I.Kant (1724 - 1804) đã từng khái quát rất ngắn gọn nhưng súc tích mục đích tối hậu của triết học “không có gì khác hơn là toàn bộ vận mệnh của con người”1. Còn C.Mác thì tiên đoán rằng, “về sau khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học về con người cũng như khoa học về con người bao hàm trong nó khoa học về tự nhiên: đó sẽ là một khoa học”2. Những nhận định này giúp chúng ta hiểu được tại sao từ thời cổ đại cho đến tận hôm nay, vấn đề con người luôn nằm trong trung tâm sự chú ý của các nhà triết học, cả ở phương Đông lẫn ở phương Tây, thuộc các trường phái hết sức khác nhau và đặc biệt nó ngày càng thu hút mạnh mẽ hơn sự quan tâm của rất nhiều ngành khoa học hiện đại. Sự chú ý đó xoay quanh các khía cạnh khác nhau, song quy tụ lại nhiều nhất là vấn đề nguồn gốc, bản tính, bản chất, mặt sinh học và mặt xã hội và vai trò của môi trường trong sự hình thành và phát triển của con người.

Ngược lại lịch sử chúng ta thấy rằng, Nho giáo, nhất là Nho giáo sơ kỳ, quan tâm nhiều đến vấn đề bản tính con người và nêu lên những mệnh đề nổi tiếng khi coi tính người là thiện (Khổng Tử, Mạnh Tử), tính người là ác (Tuân Tử), tính người không thiện cũng không ác (Cáo Tử) hoặc thiện ác lẫn lộn (Dương Hùng). Đáng chú ý là quan niệm của các nho gia khẳng định về “tính tương cận tập tương viễn” ở con người, tức là họ đặc biệt coi trọng vai trò của môi trường đối với sự hình thành tính người và tính cách của con người. 

Triết học Hy Lạp cổ đại chú ý nhiều hơn đến sự tương đồng và nhất là sự khác biệt cơ bản, sự độc đáo của con người so với con vật. Tiêu biểu về mặt này là quan điểm của Aristotle (384 - 322 TCN) được nêu trong tác phẩm nổi tiếng Chính trị luận của ông. Aristotle coi “con người là một động vật mà do bản tính tự nhiên phải sống trong một nhà nước (con người là một động vật chính trị)” và “con người là một sinh vật chính trị, và là một sinh vật chính trị ở mức độ cao hơn loài ong hay các loài thú sống bầy đàn khác”3. Thật ngạc nhiên là ngay trong thời cổ đại mà đã có nhà triết học nhận ra rằng, con người tuy có nguồn gốc từ động vật nhưng lại chịu sự chi phối của các điều kiện và môi trường xã hội!

Tiếp theo triết học cổ đại, triết học Mác không chỉ thừa nhận nguồn gốc tự nhiên và tổ tiên động vật của con người, mà còn nhấn mạnh đến bản chất xã hội của con người, coi con người là một thực thể sinh học - xã hội. Dễ dàng nhận ra điều này trong nhiều tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen, trước hết là qua các tác phẩm lớn như Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Gia đình thần thánh, Luận cương về Phoiơbắc, Hệ tư tưởng Đức, Tư bản hay Biện chứng của tự nhiên, Lutvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức,...

Nếu như trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 C.Mác khẳng định rằng, “giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người… Con người (cũng như con vật) sống bằng giới tự nhiên vô cơ…; con người là một bộ phận của giới tự nhiên”4 thì trong Luận cương về Phoiơbắc (Bản thảo năm 1845), C.Mác viết rằng, “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà* tất cả các quan hệ xã hội”5. Như vậy, từ các quan điểm trên của C.Mác, cần phải xem xét nguồn gốc và bản chất con người từ các góc độ khác nhau, cả từ góc độ tự nhiên lẫn góc độ xã hội; bởi vì, đối với triết học Mác, con người là một thực thể thống nhất sinh học - xã hội. Một khi đã thừa nhận như vậy thì đương nhiên phải thừa nhận vai trò quan trọng của môi trường đối với sự hình thành, xuất hiện và cả đối với sự phát triển, sự tiến hóa lâu dài của con người trên trái đất qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.

Điều cần lưu ý ở đây là môi trường cần phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này, tức là môi trường bao bọc xung quanh con người - cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội chứ không phải chỉ là môi trường tự nhiên. Điều đó có nghĩa là môi trường bao gồm các yếu tố, các điều kiện tự nhiên (lý học, sinh học, hóa học) lẫn các yếu tố, các điều kiện nhân tạo (cả các yếu tố và điều kiện tự nhiên đã được con người biến đổi) bao quanh con người. Con người không thể tồn tại ở đâu khác ngoài tồn tại trong tự nhiên, dựa vào nguồn vật chất, nguồn năng lượng trong tự nhiên để sống và cũng không thể phát triển ở đâu khác ngoài việc có thể phát triển trong môi trường tự nhiên lẫn trong môi trường xã hội.

Sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện trong môi trường tự nhiên đến sự hình thành và tiến hóa của con người từ cách đây nhiều triệu năm ngày càng được các ngành khoa học hiện đại làm sáng tỏ hơn.

Chúng ta đều biết, trình độ khoa học tự nhiên cho đến tận thế kỷ XIX vẫn chưa cho phép các nhà khoa học và các nhà tư tưởng, kể cả những bộ óc vĩ đại như C.Mác và Ph.Ăngghen hay S.Đácuyn hiểu rõ mặt cấu tạo sinh học vi mô, tức là mặt phân tử và dưới phân tử6 của con người cũng như sự tương đồng và sự khác biệt trong cấu trúc cơ thể của loài vượn - người và loài người (Homo sapiens). Khoa học thời đó cũng chưa hiểu được các quy luật di truyền sinh học, chưa hiểu rõ được vai trò của rất nhiều tác nhân gây đột biến có ở trong thiên nhiên và nhất là chưa hiểu rõ được cái cốt lõi nhất phân biệt một loài sinh vật này với một loài sinh vật khác. Bởi vậy, các nghiên cứu khoa học hoặc là chú trọng đến mặt tự nhiên hoặc là nặng về mặt xã hội nhiều hơn khi bàn về nguồn gốc và sự xuất hiện của con người. Những điều bí mật này đang ngày càng trở nên sáng tỏ hơn dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, trước hết là nhờ những thành tựu của khoa di truyền học về các định luật di truyền và về lý thuyết các tác nhân gây đột biến.

Di truyền học hiện đại cung cấp cho chúng ta những cơ sở khoa học rất đáng tin cậy để khẳng định chắc chắn rằng, mỗi loài sinh vật đều có một bộ nhiễm sắc thể đặc trưng với số lượng nhiễm sắc thể không đổi, với một loại ADN đặc trưng của riêng nó, chừng nào nó còn tồn tại với tính cách một loài, nghĩa là khi nó chưa có những đột biến có thể dẫn đến sự hình thành một loài mới. Điều đó có nghĩa là để trở thành loài người như ngày nay thì đã phải có sự đột biến nào đó từ một loài rất gần gũi về mặt cấu tạo, nghĩa là phải có sự cải biến nào đó rất căn bản về thông tin di truyền. Nói cách khác, đã phải có một loài gần với loài người về mặt cấu trúc sinh học nhưng do những tác nhân gây đột biến nào đó trong thiên nhiên đã làm tăng lên hoặc làm giảm đi một số lượng nhất định nhiễm sắc thể vốn có.

Theo quy luật sinh học, một số cá thể trải qua sự đột biến như vậy sẽ sống sót được qua con đường chọn lọc tự nhiên nhờ có được những tính trạng mới, cách thức cấu tạo cơ thể mới, có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường sống mới, như S.Đácuyn nói, sẽ họp thành quần thể mới. Quần thể sinh vật mới này, theo lý thuyết di truyền học quần thể hiện đại, là cơ sở dẫn đến sự hình thành nên loài mới. Nét độc đáo của điều kiện tự nhiên ở những khu vực mà trong hơn nửa thế kỷ vừa qua đã có nhiều phát hiện khảo cổ rất giá trị7 và được coi là quê hương khởi nguồn sự xuất hiện của con người, chính là từ những đứt gãy (rift) vĩ đại của vỏ Trái đất ở Đông Phi đã phát ra một lượng mácma phóng xạ cực lớn. Còn tại Nam Phi, cũng là nơi đã từng phát hiện ra những sọ người có niên đại nhiều triệu năm thì lại cực giàu về các vỉa dày quặng urani và thôri phóng xạ. Vì vậy, các nhà khoa học đã khá thống nhất khi cho rằng, nhiều triệu năm trước đã từng có lò phản ứng hạt nhân tự nhiên hoạt động ở đây8. Chính sự đột biến tự nhiên xảy ra trong cơ thể các cá thể loài vượn - người đã sản sinh ra những đứa con “dị thường”, hay là những “quái thai” theo quan điểm sinh học và di truyền học hiện đại, với những tính trạng mới chưa từng có ở tổ tiên của nó, nghĩa là hình thành một loài hoàn toàn mới về mặt cấu trúc sinh học. Loài mới này - loài người - cũng đã mất đi nhiều tính trạng mà tổ tiên của nó đã từng có như bộ răng vừa to, vừa bè và lại vừa khỏe hoặc có sức mạnh ghê gớm về thể chất,...

Như vậy, từ góc độ khoa học hiện đại, có thể nhận định rằng, ở một thời điểm nào đó đã rất xa trong quá khứ, vượn - người bậc cao với 48 nhiễm sắc thể dưới tác động của các tác nhân đột biến, trước hết là các nguồn phóng xạ trong tự nhiên sinh ra từ các quá trình kiến tạo địa chất phức tạp, đã bị mất đi 2 nhiễm sắc thể trong tế bào sinh sản, rồi qua quá trình sinh sản đã để lại những hậu thế có số lượng nhiễm sắc thể như con người ngày nay. Đây chính là bước ngoặt quyết định dẫn đến sự hình thành loài mới. Loài mới này ít lông, có thể đi lại bằng hai chân, cấu tạo cuống họng của nó khác với cuống họng của tổ tiên nên nó đã có thể phát ra những âm thanh đặc biệt, có hoạt động sinh sản đặc biệt và nhất là có một bộ óc lớn tiềm ẩn khả năng tư duy,… hơn hẳn tổ tiên của mình. Loài mới này có bản tính sinh học khác hơn các loài đã có để trở thành một loài thông minh, loài người biết suy nghĩ, loài người hiện đại (Homo sapiens) của họ người, trong bộ linh trưởng, thuộc lớp có vú.

Khoa học sinh học hiện đại ghi nhận trên trái đất ngày nay hiện có ba loài trong chi Homo là tinh tinh thường (Homo troglodytes), tinh tinh lùn (Homo paniscus) và con người (Homo sapiens), mà theo sự phân tích di truyền học thì ADN của chúng rất giống nhau, chúng chỉ khác nhau có 1,6% trong bộ mã di truyền; khác nhau rất ít, chẳng hạn, chỉ khác ở một hoặc hai vị trí các axít amin trong hêmôglôbin9. Tuy nhiên, chính những sự khác biệt rất nhỏ nhặt ấy lại dẫn đến những sự khác biệt vô cùng quan trọng về các tính trạng giữa con người và con tinh tinh (được gọi là vượn người hiện đại).

Những bằng chứng đầu tiên mà ngành khảo cổ học thu được ở châu Phi (Kênia, Tandania, Êtiôpi) của gia đình nhà khoa học L.Liki (Louis Leakey) và những phát hiện của nhiều nhà khoa học khác trong suốt hơn nửa thế kỷ qua cho thấy, thời điểm xuất hiện của tổ tiên con người ngày nay không còn được tính bằng vạn hoặc chục vạn năm nữa mà đã được tính bằng triệu năm (theo những tài liệu khác nhau, con số đó đã lên tới từ 6 đến 8 triệu năm). Trong ít nhất hơn 6 triệu năm trước đó, họ người có thể đã tách ra thành ba loài khác nhau, trong số đó chỉ có một loài sống được trong điều kiện khí hậu và môi trường tự nhiên có biến động đột ngột và dữ dội - đó là loài người, còn các loài khác trong họ này không thể thích nghi được nên đã bị tuyệt chủng (chẳng hạn, Zinjpirantrôp, Ôstralôpitec châu Phi, Rôbustus,...).

Đặc biệt, các phát hiện ra di cốt Ôstralôpitec châu Phi “đi thẳng” có độ tuổi 5,5 triệu năm cho đến di cốt Kêniapitec có độ tuổi 9 triệu năm cho thấy sự hình thành họ người và con người về mặt sinh học sớm hơn rất nhiều trước khi họ biết chế tạo công cụ bằng đá. Những phát hiện trên cho phép khẳng định rằng, để có thể tiến hành các hành vi lao động, tức là các hành vi mang tính xã hội người, thì con người phải được chuẩn bị về mặt sinh học trước đã, nghĩa là mặt sinh học trong con người vốn là cơ sở cho sự tồn tại của mặt xã hội của con người. Những phát hiện đó còn cho phép chúng ta tin rằng, con người xuất hiện trước tiên ở châu Phi (Đông Phi và Nam Phi) như S.Đácuyn đã nói, hay ở những vùng có khí hậu ấm áp rồi phải rất lâu sau đó mới tiến dần đến sinh sống ở các vùng có khí hậu lạnh lẽo hơn, khắc nghiệt hơn như Ph.Ăngghen đã từng dự đoán.

Tuy nhiên, một mình mặt cấu tạo sinh học thì chưa đủ để khẳng định loài người thực sự trở thành con người. Nói cách khác, trong quá trình tiến hóa của con người phải có sự tham gia của các yếu tố xã hội, của các điều kiện và môi trường xã hội. Ph.Ăngghen đã phân tích mặt xã hội và vai trò của môi trường xã hội trong sự tiến hóa đó của con người trong tác phẩm nổi tiếng Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người (1876). Theo đó, từ việc bắt đầu sử dụng những công cụ có sẵn trong tự nhiên tiến dần đến chỗ chế tạo ra các công cụ mới, tạo ra các tư liệu sinh hoạt mới cho mình thì con người đã thoát ra khỏi trạng thái động vật để bước vào lịch sử xã hội. Về điều này, trong Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết rằng, “bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định”10. Trải qua hàng vạn năm, nhờ lao động mà bàn tay vượn - người đã biến thành bàn tay con người và đó là “bước quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người đã được thực hiện”11

Ở con người, “bàn tay không những là khí quan dùng để lao động, mà còn là sản phẩm của lao động nữa”12. Việc bàn tay với tính cách là khí quan để lao động, để “chế tạo ra công cụ lao động” vừa chứng tỏ con người đã bắt đầu bước vào lịch sử xã hội và cũng vừa là sự phân biệt bàn tay vượn - người với bàn tay con người, vừa thể hiện vai trò của các yếu tố xã hội, của mặt xã hội, trong việc biến bàn tay vượn - người thành bàn tay con người. Vì vậy, “người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát ra khỏi trạng thái thuần túy là loài vật”13. Trong môi trường lao động, ngôn ngữ đã xuất hiện; lao động và ngôn ngữ là hai yếu tố kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con người. Đây chính là những yếu tố xã hội quan trọng nhất làm cho con người khác với vượn - người, làm cho vượn - người trở thành con người. “Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”14 như Ph.Ăngghen nói chính là theo ý nghĩa đó.

2. Những điều trình bày trên đây cho thấy môi trường có vai trò cực kỳ quan trọng không chỉ đối với sự xuất hiện mà còn cả đối với sự tiến hóa của con người trong lịch sử. Vậy trong điều kiện hiện nay, môi trường đóng vai trò gì trong sự tiến hóa và sự phát triển của con người hiện tại? Sau đây bài viết sẽ đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến vai trò của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội cấp bách nhất có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của con người.

Khi con người đã bước vào lịch sử thì cũng là khi con người đã có được một bước ngoặt, cả về mặt sinh học lẫn mặt xã hội, mà không thể có ở bất cứ một loài sinh vật nào khác. Cấu tạo sinh học cùng với những công cụ và những phương tiện do chính mình tạo ra cho phép con người có được khả năng tồn tại và thích nghi với các điều kiện môi trường tự nhiên đôi khi rất khắc nghiệt. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng, dù có những phẩm chất ưu trội so với các loài sinh vật khác nhưng khả năng đó ở con người cũng không phải là vô hạn.

Chúng ta đang chứng kiến môi trường sống của mình xấu đi từng ngày trước hết là do tác động nhiều mặt của chính con người. Đất, nước, không khí hay rộng hơn là thạch quyển, thủy quyển, khí quyển ở mọi nơi trên trái đất, nhất là tại các thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung, các khu dân cư đông đúc đều đang bị ô nhiễm nặng nề. Không ít các dòng sông trên thế giới, và cả ở Việt Nam, đã hoặc đang chết sẽ dẫn đến tình trạng thiếu nước sạch nghiêm trọng trong một tương lai không xa. Ở một số thành phố không phải lúc nào người dân cũng đựơc hít thở không khí trong lành. Có thể nói, chất lượng nhiều thứ tối cần thiết cho cuộc sống của con người đang suy giảm rất nghiêm trọng. Khoa học và công nghệ hiện đại do con người phát minh ra không những đang làm biến đổi môi trường tự nhiên vô cùng mạnh mẽ mà còn góp phần gây ô nhiễm nặng nề cả môi trường xã hội. Ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm sóng âm thanh và từ trường gia tăng nhanh chóng. Nói như Th.Friedman, thế giới “đang ngày càng nóng bức, bằng phẳng và chật chội hơn” và tất cả những cái đó đang “khiến cho hành tinh này có thể rơi vào trạng thái bất ổn đầy nguy hiểm”15. Nhân đây cũng nên nhớ đến quan điểm của một trong những nhà tư tưởng lớn của nhân loại là J.J.Rutxô (J.J.Rousseau, 1712 - 1788), người luôn luôn tin tưởng vào bản chất tốt đẹp của con người, song nền văn minh đã làm cho nó xấu đi vì xã hội và nền văn minh đã định hướng sai cho con người, vì môi trường xã hội ngày càng trở nên suy đồi.

Đã có quá nhiều báo động khẩn cấp về những tác động không mong muốn của tình trạng ô nhiễm và phá hoại môi trường tự nhiên đối với các loài sinh vật và cả con người. Theo Tổ chức bảo tồn quốc tế thì “cứ hai mươi phút, ngoài một loài sinh vật bị tuyệt chủng thì còn 485 hécta rừng bị cháy, bị phá vì mục đích kinh tế”16. Cũng đã có quá nhiều thống kê về sự tăng lên nhanh chóng các loại bệnh tật mới và số người chết hàng năm do chúng gây ra.

Những tai họa từ sự biến đổi khí hậu do con người gây ra cho chính con người trên khắp hành tinh này ngày một khốc liệt hơn và với tần suất ngày một cao hơn. Sự biến đổi của môi trường tự nhiên làm thay đổi điều kiện sống của con người. Chính điều này buộc con người với tính cách một loài sinh vật phải tự có khả năng thích nghi, nghĩa là phải có những biến đổi, những sự tiến hóa sinh học ở trình độ vi mô hoặc siêu vi mô mà chính con người không thể cảm nhận được bằng cảm quan. Quy luật của sự tiến hóa để sinh tồn của các loài sinh vật đòi hỏi phải như vậy. Chắc chắn là các cá thể mắc phải một số bệnh được gọi là căn bệnh của thời đại “văn minh” là những cá thể không thích nghi kịp với sự biến đổi của điều kiện môi trường sống hoặc cũng có thể là do tiêu dùng các loại thực phẩm và đồ dùng hàng ngày có hại. Đó cũng là lý do vì sao, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, số người mắc các bệnh như bệnh phổi, bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư, tâm thần, thần kinh, hen xuyễn, dị ứng,... hoặc các bệnh liên quan đến những khuyết tật di truyền gây xẩy thai, L.Down,... hàng năm tăng lên nhanh chóng. Sự phát triển bình thường các mặt của con người vì vậy sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, thậm chí còn ảnh hưởng rất xấu đến vốn di truyền của các thế hệ.

Tuy nhiên, cản trở sự phát triển của con người không chỉ là các yếu tố tự nhiên, là các điều kiện trong môi trường tự nhiên. Sống trong xã hội, nhất là các xã hội có trình độ phát triển cao thì vai trò của các yếu tố môi trường và hoàn cảnh xã hội trong việc thúc đẩy sự phát triển theo hướng tích cực của con người là rất đáng kể. Một xã hội mà trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, con người phải đối mặt với cái đói triền miên và thiếu thốn mọi thứ cho các sinh hoạt thường nhật thì cũng thật khó để phát triển tốt nhất về thể lực, trí lực và các năng lực khác.

Tuy nhiên, môi trường xã hội, và nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường xã hội, cũng cản trở sự phát triển con người chẳng kém gì sự cản trở của các yếu tố bất lợi trong môi trường tự nhiên. Một xã hội không ổn định trên tất cả các mặt, đặc biệt là đời sống chính trị và đời sống kinh tế, sẽ không tránh khỏi các mâu thuẫn, các xung đột liên miên và nghiêm trọng. Một thế giới mà luôn luôn trong tình trạng đối đầu quân sự và có xung đột vũ trang thì con người cũng không thể nào bình tâm, không tránh khỏi những lo âu hoặc không bị stress. Đối với con người thì chiến tranh luôn luôn là lực cản và thứ phá hoại tệ hại nhất. Đó là những điều dễ nhận ra.

Cái cũng đáng ngại không kém cản trở sự phát triển của con người là con người bị kìm nén bởi tình trạng các luật lệ hà khắc, phản nhân đạo, vô luật pháp, nhất là tình trạng mất dân chủ và không có tự do thật sự. Con người không thể nào bộc lộ được tài năng, không thể nào phát triển được trí tuệ của mình ở mức cao nhất nếu như phải sống trong không khí xã hội ngột ngạt, mất dân chủ, không có tự do.

Xã hội phát triển thì những con người khác nhau trong xã hội đó có những nhu cầu rất khác nhau cho nên càng cần có và càng đòi hỏi các điều kiện khác nhau cho sự phát triển của mình. Một môi trường xã hội tốt phải là môi trường tạo được các điều kiện tốt cho sự phát triển các tài năng. Trong bất cứ xã hội nào, số người có tài năng thật sự tuy không phải là hiếm, thậm chí cũng không phải là ít, nhưng để cho các tài năng phát triển, và nhất là để có được những thiên tài, thì xã hội “phải chăm lo đất trồng để các thiên tài từ đất ấy lớn lên tươi tốt. Thiên tài chỉ có thể tự do hít thở trong một bầu không khí của tự do”17. Đó là lý do dẫn nhà triết học người Anh là J.S.Mill (1806 - 1873) đến dự báo rất đáng chú ý rằng, tự do “chẳng bao lâu nữa nó sẽ buộc người ta phải thừa nhận như một vấn đề sinh tử của tương lai”18 loài người.

Xét trên tất cả các mặt, môi trường tự do và dân chủ trong xã hội là tiêu chuẩn để đánh giá tiến bộ của lịch sử, đồng thời cũng là thước đo của sự tiến bộ xã hội, là thước đo trình độ giải phóng con người và sự phát triển của mỗi con người. Vì dân chủ và tự do chính là những giá trị mang tính nhân loại, là những giá trị xã hội phổ biến, cho nên môi trường tự do và dân chủ được xã hội tạo ra đóng vai trò hết sức quan trọng và thật sự là động lực cần thiết cho sự phát triển nhiều mặt của con người. Như C.Mác nói, “con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”19. Cho nên, một đất nước mất tự do, một xã hội không có môi trường dân chủ thì chắc chắn không chỉ là một thảm họa đối với sự phát triển của con người mà còn là lực cản cực lớn đối với tiến bộ xã hội.

Môi trường xã hội khác còn trực tiếp tác động mạnh hơn đến sự phát triển của con người chính là môi trường giáo dục. Thành tựu mà ngành giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đạt được là rất to lớn, một môi trường giáo dục lành mạnh và tiến bộ đã được thiết lập. Tiếc rằng, giờ đây, đất nước lại đang đứng trước thách thức lớn chính là về giáo dục. Do thiếu một triết lý giáo dục cho nên chúng ta loay hoay giữa đổi mới và cải cách. Sự thay đổi chỉ mang tính chắp vá cả về nội dung và phương pháp ở tất cả các cấp học; sự cóp nhặt vội vã nhiều cái của nước ngoài áp đặt vào Việt Nam; sự mở rộng quá đáng, vượt khả năng trong giáo dục đại học, sự tùy tiện và tụt hậu trong đào tạo đại học và sau đại học,... đang đưa chất lượng giáo dục và đào tạo của nước nhà suy giảm nặng nề, đến nỗi một người đã gắn bó với giáo dục nước nhà hơn 60 năm là Giáo sư Hoàng Tụy đã phải viết: “Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng” rằng, “chúng ta không chỉ tụt hậu mà còn nguy hiểm hơn là đang đi lạc khá xa con đường chung của thế giới. Tình hình nghiêm trọng đó được báo động từ 15 năm nay, nhưng chúng ta cứ dửng dưng, tự ru ngủ bằng những thành tích giả và lún sâu vào khủng hoảng mà không hay biết”20.

Sự lạc hậu, lạc đường, chạy theo thành tích giả, biến giáo dục thành ngành kinh doanh, vụ lợi,... đang làm cho môi trường giáo dục nước nhà hỗn loạn với không ít những sự thay đổi bất ngờ đến mức vô lối và chẳng có ai phải chịu trách nhiệm. Một môi trường giáo dục như vậy đã và đang dẫn đến không ít những hệ lụy mà tất cả đều liên quan đến con người, nhất là đến thế hệ trẻ. Đạo đức xuống cấp, kiến thức nặng nề, phương pháp giáo dục lạc hậu mang tính áp đặt và không khuyến khích óc sáng tạo, học giả bằng thật, mua bán bằng cấp tràn lan,... chính là một trong số các điều kiện môi trường xã hội đang cản trở sự phát triển lành mạnh của con người. Những hệ lụy từ đó chắc chắn sẽ rất nặng nề nhưng đang chưa có thuốc phòng ngừa chứ chưa nói đến thuốc đặc trị. Song, hệ lụy lớn nhất đã hiển hiện trước mắt trong giáo dục chính là sự mất niềm tin. Một khi con người mất niềm tin thì cái giá phải trả là vô cùng lớn.

Con người gắn chặt với môi trường, cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội từ khi xuất hiện cho đến thời đại văn minh hiện nay và còn lâu nữa khi con người còn tồn tại. Sự phát triển của con người cũng chịu sự ràng buộc và quy định nhất định của môi trường, mặc dù bản thân con người có khả năng cải biến cả môi trường tự nhiên lẫn môi trường xã hội. Bảo vệ tốt môi trường tự nhiên chính là bảo vệ cơ sở tồn tại của chính con người. Tuy nhiên, con người không thể phát triển các phẩm chất tốt đẹp của mình nếu không có môi trường xã hội lành mạnh. Do vậy, tạo môi trường xã hội lành mạnh là điều kiện không thể thiếu để có thể phát triển và hoàn thiện con người.

Tài liệu tham khảo

1.      Aristotle (2013), Chính trị luận, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

2.      Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Một số vấn đề về triết học - con người - xã hội, Nxb.    Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3.      Jared Diamond (2007), Loài tinh tinh thứ ba. Sự tiến hóa và tương lai của loài người, Nxb. Tri thức, Hà Nội.

4.      Thomas L.Friedman (2009), Nóng, phẳng, chật, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

5.      Kant (2004), Phê phán lý tính thuần túy, Nxb. Văn học, Hà Nội.

6.      C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, T3, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

7.      C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, T.20, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

  1. C.Mác (1995), “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, In trong: C.Mác và   Ph.Ăngghen, Toàn tập, T.42, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

9.       Г.Н.Матюшин (1982), У  истоков человечества, Москва, “Мысль”.

10.   J.S.Mill (2005), Bàn về tự do, Nxb. Tri thức, Hà Nội.

11.   Hoàng Tụy (2011), Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng, Nxb. Tri thức, Hà Nội.

 


* GS.TS.; Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

1 I.Kant (2004), Phê phán lý tính thuần túy, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.1176.

2 C.Mác, Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, In trong: C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, T.42, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.179.

3 Aristotle (2013), Chính trị luận, Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr.47.

4 C.Mác, “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, In trong: C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, T.42, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.134 - 135.

5 C.Mác, “Luận cương về Phoiơbắc”, In trong: C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, T.42. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.372. *Tiếng Nga là cовокупность, nên dịch là “toàn bộ”.

6 Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Một số vấn đề về triết học - con người - xã hội, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.373 - 473.

7 Có điều đặc biệt là các phát hiện này chỉ thấy ở Đông và Nam Phi chứ chưa bắt gặp ở Tây Phi.

8 Г.Н.Матюшин (1982), У  истоков человечества, Москва, “Мысль”.

9 Jared Diamond (2007), Loài tinh tinh thứ ba. Sự tiến hóa và tương lai của loài người, Nxb. Tri thức, Hà Nội; Г.Н.Матюшин (1982), У  истоков человечества, Москва, “Мысль”.

10 C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, T.3, tr.29.

11 C.Mác và Ph.Ăngghen(1994), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, T.20, tr.641.

12 C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,T.20, tr.643.

13 C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, T.20, tr.673.

14 C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, T.20, tr.641.

15 Thomas L.Friedman (2009), Nóng, phẳng, chật, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, tr.12.

16 Sđd, tr.200.

17 J.S.Mill (2005), Bàn về tự do, Nxb. Tri thức, Hà Nội, tr.148.

18 Sđd, tr.17.

19 C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, T.3, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.55.

20 Hoàng Tụy (2011), Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng, Nxb. Tri thức, Hà Nội, tr.5.