Dân chủ và kinh tế vì sự phát triển con người: Góc nhìn dân chủ xã hội của nước Đức

26/06/2014

DÂN CHỦ VÀ KINH TẾ VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI:

GÓC NHÌN DÂN CHỦ XÃ HỘI CỦA NƯỚC ĐỨC

THORSTEN ROLF SCHÄFER-GĩMBEL *

“Trao cho thị trường tự do nhiều hơn nếu có thể, và kiểm soát nó chỉ ở mức cần thiết”. Câu nói này được Karl Schiller, thành viên Đảng Dân chủ xã hội Đức, Bộ trưởng Kinh tế và tài chính trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 phát biểu. Cho đến nay ông vẫn được xem là một trong những nhà kinh tế học người Đức có ảnh hưởng lớn nhất.

Phát biểu này là định hướng quan trọng cho nền chính trị dân chủ xã hội. Nó định hướng triển vọng kinh tế cũng như sự tham gia dân chủ ở Đức. Kinh tế thị trường xã hội ấn định việc hoạch định chính sách hàng ngày của chúng tôi. Sự phát triển của quốc gia và quốc tế đã đưa đến nhiều thách thức cho các hệ thống, nhưng cũng có thể xem đây là  cơ hội cho sự tối ưu hóa các hệ thống đó. Như thủ tướng Đức trước đây, Willy Brandt cho rằng: “mỗi thời đại đều đòi hỏi những câu trả lời đúng lúc cho riêng nó”.

Nền kinh tế thế giới đang biến đổi với tốc độ chóng mặt. Các sức ép của thị trường khiến đời sống chúng ta trở nên vừa tốt đẹp hơn, nhưng cũng vừa tồi tệ hơn. Nó cũng khiến cho các nhà làm chính sách phải kiên định đảm bảo rằng, dân chủ và nền kinh tế mạnh phải tồn tại đồng thời bên nhau và không có chuyện cái này phải hi sinh cho cái kia. Chúng ta cần những câu trả lời mới cho những thách thức của thời đại chúng ta, tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là những câu trả lời ấy không xuất phát từ những giá trị của quá khứ, như: đoàn kết, nhà nước pháp quyền, bình đẳng cho tất cả mọi người, cơ hội về kinh tế - tóm lại là Dân chủ.

Do vậy, bây giờ cho phép tôi giải thích việc những người Dân chủ xã hội Đức hiểu thế nào về mối quan hệ giữa dân chủ và kinh tế thị trường hiện đại trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Năm ngoái chúng tôi kỷ niệm 150 năm nền Dân chủ xã hội ở Đức. Ban đầu, vào cuối thế kỷ 19 đã xuất hiện ước muốn mãnh liệt về sự thay đổi xã hội… Cách mạng công nghiệp gây ra tình trạng bóc lột người lao động, những nhà tư bản giàu có đã kiếm lợi nhuận trên tình trạng đó, những người nghèo đã đấu tranh. Chủ nghĩa tư bản phi điều tiết thống trị thời kỳ này. Lý thuyết của Adam Smith về chủ nghĩa tự do trong kinh tế là cách nhìn phổ biến cho tới tận thời kỳ Đại Suy thoái năm 1929. Công nghiệp hóa, chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất và các thị trường thương mại tự do đã định hình nên nền kinh tế. Một giả định: cái được gọi là “bàn tay vô hình” sẽ tạo ra sự phân phối hiệu quả các nguồn lực và sự thịnh vượng. Niềm tin, sự tín nhiệm vào thị trường và các doanh nhân có trách nhiệm rất lớn. Các quy tắc điều chỉnh mang tính chất chính trị là yếu ớt và ít ỏi.

Trong thời kỳ này, Karl Marx đã triển khai sự phê phán của ông đối với chủ nghĩa tư bản. Theo quan điểm của ông, chủ nghĩa tư bản là hệ thống tối ưu nhất, cho năng suất cao và sự sáng tạo, nhưng nó lại dẫn tới những điều kiện sống cực khổ cho phần lớn người dân - những người lao động. Nhà tư bản muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình trong mồ hôi nước mắt của người làm công. Kết quả là sự bóc lột công nhân và sự chán ghét công việc của chính họ. Chính phong trào công nhân mạnh mẽ đã dẫn tới sự phát triển của Đảng Dân chủ xã hội ở Đức. Sau khi thành lập, Đảng bao gồm phong trào giải phóng công nhân và cả phong trào dân chủ nhằm đánh bại nhà nước độc tài. Đồng thời, Đảng dân chủ xã hội cũng đấu tranh cho các cải cách, cho hệ thống an sinh xã hội tốt hơn và cả cho việc dân chủ tham gia.

Nhưng việc phủ nhận cạnh tranh và sở hữu tư nhân đã dẫn tới nhiều tranh luận trong Đảng thời kỳ sau chiến tranh. Sự bùng nổ kinh tế đã làm thay đổi tư duy của Đảng dân chủ xã hội về hệ thống hỗ trợ. Nhà kinh tế học John Maynard Keynes đã có ảnh hưởng mạnh hơn cả đến tầm nhìn của Đảng dân chủ xã hội ngày nay. Ý tưởng của ông về chủ nghĩa tư bản được kiểm soát đã thể hiện ở các chính sách kinh tế của Đảng dân chủ xã hội. Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế nhưng sự cạnh tranh cũng có chỗ của nó. Trong các thời kỳ khủng hoảng và suy thoái kinh tế, nhà nước phải tăng nhu cầu chi tiêu công. Năm 1959, Đảng Dân chủ xã hội đã đưa ra cương lĩnh mới, được gọi là Chương trình Godesberg. Mục tiêu của nó là phát triển đảng từ đảng của công nhân xã hội chủ nghĩa thành đảng nhân dân với tuyên bố rõ ràng về thúc đẩy kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội. Từ góc độ lịch sử, đây là một trong những bước phát triển quan trọng nhất của Đảng dân chủ xã hội.

Tuy nhiên, hiện nay Đảng Dân chủ xã hội vẫn tiếp thu cả ba nhà kinh tế học - Karl Marx, Adam Smith và John Maynard Keynes - những người ảnh hưởng nhiều nhất tới nhãn quan của Đảng Dân chủ xã hội về kinh tế xã hội bền vững. Đảng Dân chủ xã hội đang chủ trương cạnh tranh nói chung và tài sản tư nhân - theo tư tưởng của Adam Smith. Tư tưởng của ông về tự do và hợp tác quốc tế trong thương mại và sản xuất là quan trọng đối với sự giàu có của cải và sự thịnh vượng của mọi người. Karl Marx cũng là người định hướng chính và là cố vấn chính trị của Đảng Dân chủ xã hội trong công việc nghiêm chỉnh này và trong việc phê phán chủ nghĩa tư bản. Vấn đề về sự cân bằng giữa tư bản và lao động cũng quan trọng và đã được giải đáp hàng ngày theo những cách thức mới. Nhưng Keynes đã phát triển định hướng chung của Đảng dân chủ xã hội. Đảng dân chủ xã hội muốn có một chính sách kinh tế tích cực và một nền kinh tế có điều tiết với các quy định. Đảng Dân chủ xã hội muốn một nhà nước phúc lợi xã hội mạnh và một xã hội mà trong đó các công dân của nhà nước trở nên tự tin vào các quyền bình đẳng. Hệ thống của Đảng Dân chủ xã hội bao gồm bốn chiều cạnh sau: thiết lập khuôn khổ chính sách, logic của thị trường, quyền tham gia của người lao động và nền kinh tế vĩ mô có điều tiết.

Trước khi tập trung vào các khía cạnh dân chủ trong nhãn quan kinh tế, tôi muốn giải thích hệ thống kinh tế thị trường xã hội của nước Đức. Chủ tịch Đảng Dân chủ xã hội chúng tôi và cũng là Bộ trưởng Bộ các vấn đề kinh tế, Sigmar Gabriel đã gọi kinh tế thị trường xã hội là một trong những truyền thống tốt đẹp nhất ở Đức. Nó là niềm hi vọng về sự thịnh vượng của mọi người kể từ sau các cuộc Thế chiến và nó cũng tạo ra giai cấp trung lưu lớn mạnh. Hệ thống này là một trong những nguyên nhân cho sự phục hồi kinh tế và là động lực chính của tăng trưởng và công bằng xã hội của nước Đức.

Trái ngược với thể chế kinh tế tự do, kinh tế thị trường xã hội được xây dựng dựa trên bốn trụ cột. Mục tiêu của nó có thể được tóm tắt như sau:

Mục tiêu thứ nhất đã được giải thích: tình cảnh khó khăn của giai cấp thấp hơn phải được cải thiện. Mục tiêu chính là gia tăng của cải cho mọi người. Về phương diện kinh tế, điều đó đưa tới sự gia tăng sức mua. Trụ cột thứ hai tạo nên chính sách tiền công hướng tới năng suất. Gia tăng năng suất dẫn tới tăng tiền công cho tất cả công nhân. Cách tiếp cận thứ ba là kích thích nền kinh tế. Các chính sách kinh tế về cơ cấu và việc tăng chi tiêu công có thể làm thay đổi chu kỳ kinh tế. Nhưng không phải là xếp hạng quan trọng cuối cùng, Đảng Dân chủ xã hội triển khai mục tiêu nhà nước phúc lợi mạnh hỗ trợ nền kinh tế. Chỉ có sự cân bằng (balance) giữa sức mạnh kinh tế và tiến bộ xã hội mới thực sự đưa tới một nền kinh tế thị trường xã hội, tập trung không chỉ vào việc kinh doanh mà còn vào chính bản thân con người.

Phần lớn mọi người gọi hệ thống này là con đường thứ ba giữa chủ nghĩa tư bản phi điều tiết và chủ nghĩa xã hội. Nó bao gồm cả cạnh tranh, tự do xác định giá cả và sở hữu tư nhân các nguồn lực sản xuất. Nhưng nó cũng bao gồm khía cạnh an sinh xã hội và các loại thuế lũy tiến nhằm xác lập sự cân bằng trong xã hội. Tất nhiên, vai trò của nhà nước có thể được diễn giải khác nhau – nhà nước chỉ có thể giúp giảm tình trạng bóc lột và cung cấp trợ giúp tối thiểu cho các tầng lớp dưới. Nhưng nó cũng có thể là một nhà nước tích cực với chính sách kích cầu và sự điều tiết chặt chẽ đối với công bằng xã hội, các quyền của người lao động và mang tính bền vững. Đảng Dân chủ xã hội đang mong muốn có một nhà nước tích cực.

Đảng Dân chủ xã hội và các mục tiêu chính trị của mình theo đuổi ba giá trị chính: tự do, công bằng và đoàn kết. 150 năm qua, Đảng dân chủ xã hội đã điều chỉnh các nền chính trị của mình theo những giá trị này. Đảng dân chủ xã hội đấu tranh cho tự do và năng lực tự quyết định. Tất nhiên, điều này được thực hiện cả bên trong hệ thống kinh tế, chẳng hạn như cho tự do sản xuất kinh doanh hoặc mua bán các nguồn lực trên thị trường. Mặt khác, sự chuyên quyền chính trị hoặc sự phát triển không công bằng sẽ dẫn tới một hệ thống thiếu bền vững. Sự công bằng, kế hoạch dài hạn và lòng tin là những điều kiện tiên quyết cho những đầu tư tốt đẹp.

Những điều tiết là cần thiết để đảm bảo bình đẳng, mọi phụ nữ và đàn ông đều có cơ hội như nhau - cả trên thị trường lao động cũng như với tư cách là chủ doanh nghiệp, cả sinh viên lẫn người đã nghỉ hưu, cả khách hàng lẫn người sản xuất hoặc người cung cấp dịch vụ. Bình đẳng là một thách thức lớn trong thời đại chúng ta đang sống. Giáo dục là một trong những chìa khóa cho sự bình đẳng. Một ví dụ khác là đạo luật trả công bình đẳng mà chúng tôi đã thông qua vào năm nay. Nam giới và nữ giới đều được trả công bình đẳng đối với các công việc như nhau. Đây là bước tiến quan trọng hướng tới sự bình đẳng thật sự và cơ hội ngang nhau trên thị trường lao động. 

Mục tiêu chính thứ hai là công bằng. Kinh tế thị trường xã hội hứa hẹn sự thịnh vượng cho mọi người. Dù rằng nước Đức đã có tầng lớp trung lưu đông đảo, nhưng bất bình đẳng về thu nhập vẫn lớn và đang tăng lên. Người nghèo đang nghèo hơn và người giàu đang giàu thêm. Cơ chế ngăn chặn sự phát triển tiêu cực này là hệ thống thuế lũy tiến. Người giàu phải trả nhiều thuế hơn người nghèo. Nhưng công bằng cũng có nghĩa là bình đẳng trước pháp luật. Điều đó cũng có nghĩa là mọi người có khả năng tham gia vào đời sống xã hội và các quyết định chính trị, là có khả năng như nhau cho tất cả các nghề nghiệp. Đó cũng là tiêu chuẩn an sinh xã hội cao để có cuộc sống tốt đẹp.

Mục tiêu thứ ba của Đảng Dân chủ xã hội là đoàn kết. Mong muốn một xã hội trong đó mọi công dân đều nhận thức được trách nhiệm với những người khác. Cần một hệ thống trong đó mạng lưới an toàn xã hội bao trùm hơn cùng với chính sách giáo dục chất lượng cao, tạo lập một xã hội an toàn. Những đóng góp an sinh xã hội phụ thuộc vào thu nhập của các công dân là cách thức quan trọng để hoàn thành mục tiêu này.

Một điểm quan trọng cũng cần phải nói tới đó là: an sinh xã hội và công bằng xã hội luôn luôn củng cố hệ thống kinh tế. Chỉ khi người dân cảm thấy khỏe mạnh và an toàn thì họ mới là những người lao động giỏi, chỉ khi các công ty cảm thấy an toàn, họ mới đầu tư. Chỉ khi mọi người có được mức lương đảm bảo, họ mới có thể mua hàng hóa và dịch vụ và qua đó mới có đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Chúng ta cần sự cân bằng ở tất cả các thị trường, nhất là thị trường lao động. Ở Đức, Đảng Dân chủ xã hội sẽ cố gắng gia tăng sự cân bằng bằng việc áp dụng mức lương tối thiểu. Đối với Đảng Dân chủ xã hội, đây là cách thức chủ yếu để đánh giá đúng những cố gắng của người lao động.

Về phương diện kinh tế, Đảng Dân chủ xã hội muốn giữ được tăng trưởng dài hạn, tăng trưởng dựa trên sự cân bằng xã hội và bền vững sinh thái. Chính sách kinh tế luôn cùng với chính sách xã hội. Đây là một trong những điểm khác biệt so với những đảng khác: Đảng Dân chủ xã hội coi ba khía cạnh - tăng trưởng, cân bằng xã hội và bền vững - có vai trò quan trọng như nhau, các đảng khác xác lập những ưu tiên khác.

Đây là cách nhìn của Đảng Dân chủ xã hội về kinh tế, nhưng chưa nói đến một phần quan trọng là dân chủ hóa kinh tế. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa tư bản và dân chủ luôn luôn đi liền với nhau. Tuy nhiên ngày nay, chúng ta cũng chứng kiến những quốc gia có vai vế, có cấu trúc tư bản chủ nghĩa nhưng lại ít phát triển hệ thống dân chủ - Trung Quốc, Hồng Kông và những quốc gia châu Á khác. Chính các nước Mỹ La tinh cũng là những ví dụ rõ ràng về điều đó.

Chủ nghĩa tư bản và dân chủ thực sự đang đối mặt với áp lực lớn. Dân chủ dựa trên sự bình đẳng của mọi người, nhưng kinh tế thị trường lại khuyến khích để đầu tư nhiều hơn, để kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Các hệ thống dân chủ trao cho mọi người các quyền giống nhau. Các quyết định dựa trên nguyên tắc đa số nhưng thiểu số sẽ phải được bảo vệ tránh khỏi sự đe dọa bởi sự chuyên quyền của đa số. Nhưng các hệ thống tư bản lại dẫn tới sự phân phối bất bình đẳng về sự giàu có, thu nhập và tài sản. Các áp lực sẽ càng gia tăng nếu điều đó đưa đến sự phân phối bất bình đẳng về quyền lực. Nếu những người giàu, các nhóm hoặc các doanh nhân có thể thay đổi các quyết định của đa số dân chủ, thì hệ thống dân chủ sẽ phải đối mặt với vấn đề về hợp pháp hóa. Tham nhũng và hối lộ là kết quả của tình huống này. Đặc biệt, trong thời đại toàn cầu hóa thì điều đó lại càng trở nên mạnh mẽ. Cạnh tranh toàn cầu vì chính sách kinh tế khu vực tốt nhất và những điều kiện cho các công ty quốc tế là rất lớn. Nền kinh tế đang tạo áp lực lên các hệ thống chính trị: “Chúng tôi sẽ đầu tư nhiều hơn vào quốc gia của bạn nếu bạn thay đổi những luật lệ về điều kiện làm việc, giám sát môi trường hoặc là thuế má”.

Chủ nghĩa tư bản phi điều tiết dẫn tới tình trạng bất bình đẳng cực đoan và lệ thuộc. Các thị trường nếu không được kiểm soát một cách dân chủ sẽ có thể làm suy giảm các điều kiện làm việc và tình trạng ngoại lệ, cuối cùng có thể gây ra bất bình đẳng xã hội và giáo dục, khiến các quyền công dân của mọi người có thể bị hủy hoại. Các mục tiêu chính của nền chính trị Dân chủ xã hội như tự do, công bằng và đoàn kết sẽ bị xói mòn.

Kinh tế thị trường có thể vận hành mà không cần tới quá trình bầu cử hay tham gia dân chủ. Nhưng nền dân chủ không thể hoạt động thiếu kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nếu quyền lực kinh tế quá mạnh thì hệ thống dân chủ có thể bị sụp đổ. Đó là nghịch lý lớn mà tất cả các nhà hoạch định kinh tế phải lưu ý. Đó cũng là vai trò của các đảng chính trị trong việc tìm ra cách thức nhằm xác lập các ưu tiên đúng đắn, thể hiện tính ưu việt của chính trị so với kinh tế.

Đảng Dân chủ xã hội trong cương lĩnh của mình chủ trương rằng, sự tham gia xã hội bình đẳng của mọi người dân và dân chủ hóa tất cả các lĩnh vực của đời sống còn quan trọng hơn thị trường. Đảng Dân chủ xã hội luôn luôn muốn thị trường thích hợp với dân chủ còn dân chủ tương hợp với những quy luật của thị trường. Thị trường và hệ thống kinh tế phải tuân thủ các quy tắc dân chủ thông qua các đại diện chính trị và người lao động. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với các đảng khác ở Đức. Đảng Dân chủ xã hội nhìn thấy áp lực của thị trường và dân chủ nhưng đối với Đảng Dân chủ xã hội, dân chủ hóa kinh tế quan trọng hơn đối với các Đảng Bảo thủ.

 Đảng Dân chủ xã hội cho rằng, bảo đảm quyền công dân cũng như các quyền xã hội khác là giải pháp duy nhất cho nền dân chủ ổn định. Các thể chế dân chủ bảo vệ người yếu thế và người nghèo. Những quyền này cũng tạo triển vọng cho bình đẳng, khả năng thăng tiến nghề nghiệp và khả năng tham gia. Chúng ta có thể giải quyết nghịch lý giữa thị trường và nhà nước nếu chúng ta nhìn thấy cả hai phương diện như một. Cả hai thể chế phải vận hành cùng nhau để đạt được điều tốt đẹp nhất cho cả hai - cho kinh tế và cả cho con người.

Tuy nhiên, Đảng Dân chủ xã hội cũng phải thành thật - đặc biệt là ở châu Âu, Đảng  đang tiến hành một cuộc chiến khó khăn để bảo vệ sự phân phối của cải một cách công bằng. Những thách thức của quyền lực bên ngoài nền kinh tế đang tăng trưởng, chính trị của đảng đang đối mặt với chướng ngại vật là tình trạng hợp pháp hóa bị suy giảm. Đặc biệt là ở các nước Nam Âu, các nhân vật chính trị đang phải đối mặt với tình trạng oán thán cao độ đối với chính trị. Trong những thập kỷ trước, lời hứa của các bậc cha mẹ rằng “mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn cho con cái của tôi” đã không còn tồn tại nữa. Tây Ban Nha, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đang có tỉ lệ thanh niên thất nghiệp cao, một nửa, thậm chí hơn thế số thanh niên dưới 25 tuổi bị thất nghiệp. Không có công ăn việc làm và các khoản cho vay có thể chấp nhận được đã dẫn tới cảm giác rằng sự tự quyết trong cuộc sống là không thể. Khủng hoảng ở các quốc gia này không chỉ là về công ăn việc làm, nó bắt đầu trở thành cuộc khủng hoảng trong toàn xã hội.

Nếu chủ nghĩa tư bản mang lại sự giàu có thì nhân dân thúc đẩy hệ thống dân chủ. Nếu những hứa hẹn về sự giàu có cho tất cả mọi người không được thực hiện thì nền tảng dân chủ sẽ bị hủy hoại. Người dân sẽ không tin tưởng Đảng Dân chủ xã hội với tư cách là một đảng chính trị nữa. Kinh tế thị trường chỉ có thể vận hành nếu xã hội chấp nhận và thúc đẩy nó. Chúng ta cần thiết lập sự cân bằng mới giữa thị trường và nhà nước. Chỉ có cách lãnh đạo đảm bảo công bằng và minh bạch trong xã hội mới đem lại sự tin tưởng của người dân. Đây là mục tiêu của Đảng Dân chủ xã hội ở Đức và ở châu Âu. 

Nhưng làm thế nào để duy trì sự cân bằng này? Trước khi nói điều này ở châu Âu và bình diện quốc tế, tôi sẽ nói tới con đường thành công của nước Đức về việc người lao động tham gia kiểm soát dân chủ đối với kinh tế. Ngoài sự điều phối của nhà nước và sự phân chia quyền lực trong hệ thống dân chủ thì sự liên minh, và đặc biệt là giữa các công đoàn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường xã hội, nhằm giữ sự cân bằng giữa tiền của và lao động. Cách tiếp cận chủ yếu đối với mối cân bằng này được gọi là cùng quyết định - sự tham gia của người lao động vào đàm phán giữa các đối tác xã hội - các công đoàn và những người chủ sử dụng lao động.

Việc cùng quyết định này có thễ diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau. Cấp độ cao nhất có thể thấy là quyền tự trị trong thỏa thuận về tiền lương, đó là phạm vi rộng lớn nhất của việc cùng quyết định. Sự độc lập đối với nhà nước và các công ty riêng lẻ, các đối tác xã hội có thể xác lập nên những đường hướng và các quy định về điều kiện làm việc cũng như trả công và các khoản trợ cấp khác.

Hình thức thứ hai là bầu cử đại diện của người lao động vào hội đồng giám sát. Phụ thuộc vào quy mô công ty, các đại diện của người lao động và công đoàn chiếm 1/3 hoặc một nửa hội đồng này. Họ có trách nhiệm đề cử hội đồng điều hành, giám sát, kiểm tra cũng như thanh tra tình hình kinh doanh.

Hình thức quan trọng nhất của việc cùng quyết định là hội đồng người lao động trong công ty. Nhiệm vụ chính của hội đồng này là kiểm soát tất cả các quy định liên quan tới các khoản tiền công, điều kiện làm việc và quyền của người lao động. Một phần quan trọng khác nữa là đấu tranh chống lại phân biệt đối xử trong công ty, ví dụ như sự hợp tác thật sự trong quá trình sản xuất đối với người lao động khuyết tật hoặc lớn tuổi. Đặc biệt là trong tất cả các vấn đề liên quan tới các điều kiện lao động: mức lương, thời gian làm việc, làm thêm giờ. Hội đồng người lao động được quyền phủ quyết các quyết định của ban điều hành công ty. Ngày nay, những nhiệm vụ mới như phát triển các kế hoạch xã hội cho sự cân bằng gia đình - nghề nghiệp và giáo dục suốt đời cũng rất quan trọng.

Đảng dân chủ xã hội đã và luôn sẽ là người hỗ trợ tích cực trong việc tăng cường sự cùng quyết định. Việc cùng quyết định trong các khu vực hàng hóa và trong các công ty, việc tự do thỏa thuận tập thể và quyền đình công là những yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường xã hội. Chúng ta cần sự tham gia mạnh mẽ của những người lao động và một nền kinh tế dân chủ.

Như đã trình bày ở trên, không chỉ hệ thống dân chủ phải đối mặt với những thách thức lớn do toàn cầu hóa. Việc cùng quyết định và sự tham gia của người lao động cũng gặp phải khó khăn do những áp lực kinh tế, do thay đổi nghề nghiệp và nhập linh kiện sản xuất từ các nhà máy bên ngoài. Các hội đồng người lao động được tổ chức theo khu vực đang phải đối mặt với các công ty và ban quản lý quốc tế. Vậy, chúng ta phải giải quyết trở ngại này bằng cách nào?

Ngày nay, nước Đức được hưởng lợi rất nhiều từ toàn cầu hóa. Một nửa công việc trong công nghiệp phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào xuất khẩu. Đặc biệt thị trường chung châu Âu là một trong những lý do lớn nhất tạo điều kiện cho nền kinh tế và thị trường lao động của nước Đức. Tuy nhiên, việc mở rộng nền kinh tế thị trường xã hội của nước Đức ra hệ thống châu Âu thực sự khó khăn vì hệ thống này đã nhuốm đẫm các luật lệ cơ bản của liên minh châu Âu. Nhưng cái mà nước Đức cần là một châu Âu thực sự có tính xã hội! Nếu muốn thực hiện sự cân bằng của cải, cân bằng xã hội và bền vững, thì chúng tôi cần một châu Âu mang tính xã hội, có sự hội nhập cao hơn. 

Các hệ thống an sinh xã hội đã được mở rộng ra ngoài những truyền thống lịch sử khác nhau và có lẽ không thể hài hòa ở tất cả mà chỉ có thể làm cho thích hợp hơn. Nhưng Liên minh châu Âu có tính xã hội cần phải đặt sự liên minh kinh tế và tiền tệ trên nền tảng bình đẳng. Liên minh mang tính xã hội này trân trọng truyền thống của các nhà nước dân tộc và đồng thời tạo ra những nguyên tắc và tiêu chuẩn liên kết châu Âu mà các nhà nước thành viên sau đó không thể từ chối. Nước Đức không muốn tạo nên các hệ thống xã hội giống hệt nhau nhưng lại nhất trí về một Hiệp ước ổn định xã hội cùng với các nhà nước thành viên khác.

Nước Đức cần sự quản lý tài chính chung trong Liên minh châu Âu. Ngày nay, nước Đức đã thành lập Ngân hàng chung và đã có đồng tiền chung châu Âu, nhưng thuế cũng phải được điều chỉnh hài hòa. Để ngăn chặn sự đổ vỡ tài chính của các nhà nước dân tộc do cạnh tranh cho thuế doanh nghiệp thấp nhất, chúng tôi muốn có một thuế suất tối thiểu rộng khắp toàn châu Âu và một cơ sở định mức giống nhau.

Thị trường lao động châu Âu là một lĩnh vực chính sách quan trọng của Liên minh châu Âu mà trong đó chúng ta cần thay đổi nhiều hơn ở cấp độ châu Âu. 220 triệu người châu Âu có quyền hợp pháp trong việc tìm kiếm công việc ở bất cứ đâu trong các nước thuộc châu Âu. Tất nhiên các bước tiến quan trọng đã được thực hiện. Ví dụ, kêu gọi mở thầu phải tuân thủ các quy định riêng về quyền của người lao động, chuẩn mực xã hội và sinh thái. Các qũy xây dựng châu Âu là công cụ quan trọng để phát triển các lĩnh vực và khu vực đặc biệt để đảm bảo sự cân bằng xã hội. Ủy ban Kinh tế và xã hội châu Âu, bao gồm các hiệp hội chủ sử dụng lao động, các công đoàn cung cấp những khuyến cáo quan trọng cho các thể chế châu Âu. Và chúng tôi cũng đã tạo dựng được những bước đầu tiên hướng tới các quy định châu Âu về việc cùng quyết định. Hội đồng người lao động châu Âu sẽ được thành lập nếu công ty có hơn một nghìn lao động, trong đó có tối thiểu 150 lao động là người của các quốc gia châu Âu khác. Hội đồng này không có quyền phủ quyết, nó chỉ được tư vấn nếu các quyền của người lao động xuyên biên giới bị xâm phạm. Đường lối của châu Âu chưa hoàn hảo đến chi tiết về quy mô hay cách thức bầu cử. Cấp độ quốc gia đã quy định những điều kiện này. Liên quan đến quyền lực, định hướng này giống như là một sự ủy nhiệm, nhưng dù ở đâu, đây cũng là một ví dụ tốt cho loại công việc đang phải trực diện với những điều kiện quốc gia khác nhau, với các nhà đầu tư từ phía chính phủ và phi chính phủ, cũng như với sự linh hoạt trước các thách thức của nền kinh tế.

Nhưng nước Đức không thể dừng lại ở những quy định về việc cùng quyết định. Chúng tôi muốn bảo vệ và tăng cường việc cùng quyết định của lực lượng lao động trong các công ty châu Âu. Nhằm củng cố và đạt tới sự tự chủ trong thỏa thuận tập thể ở cấp độ châu Âu, chúng tôi sẽ thỏa thuận một nền tảng pháp lý chung châu Âu cho việc thương lượng tập thể xuyên biên giới và cho những hợp đồng lao động tập thể.

Nước Đức cũng cần có quy trình làm quyết định một cách minh bạch hơn ở cấp độ châu Âu. Chúng tôi cần đưa lại cho quy trình này nhiều hơn sự hợp pháp hóa một cách dân chủ. Khủng hoảng châu Âu những năm qua đã cho thấy rõ tình trạng thiếu hụt thiết chế dân chủ trong các quyết định về kinh tế và tài chính. Mặc dù các thể chế châu Âu vẫn mạnh và chúng tôi đã xây dựng một hệ thống phức hợp để kiểm tra và cân bằng trong những năm qua, nhưng các quyết định vẫn thường được làm ra sau những cánh cửa đóng kín. Chúng tôi cần sự phối hợp mạnh hơn các chính sách kinh tế ở tầm châu Âu - giống như sự quản lý kinh tế châu Âu do Nghị viện và Hội đồng châu Âu kiểm soát. Chúng tôi cần một Nghị viện châu Âu mạnh và có nhiều khả năng tham gia trực tiếp của người dân. Sự sửa đổi quan trọng đã được thực hiện cùng với Sáng kiến của các công dân châu Âu để khởi động một quá trình chính trị trong Liên minh châu Âu. Chỉ khi các công dân châu Âu có thể gây ảnh hưởng đáng kể tới các chính sách đó, họ mới thực sự chấp nhận các thể chế của Liên minh này.

Trên phạm vi quốc tế, chúng ta đang phải đối mặt với sự thiếu hụt trầm trọng các cấu trúc dân chủ, sự cân bằng giữa thị trường và nhà nước thường xuyên không tồn tại, hàng hóa và dịch vụ trao đổi trên khắp thế giới với hàng rào thuế quan ngày một ít hơn. Số lượng thỏa thuận tự do thương mại tăng lên, nhưng khả năng điều tiết thực sự và kiểm soát dân chủ lại không tăng lên. Các chuẩn mực xã hội thường được xem như là những định hướng đã không thực sự được thi hành. Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới hay Qũy tiền tệ thế giới cho thấy sự thiếu vắng dân chủ rất nhiều - về bỏ phiếu, tiền bạc quan trọng hơn số lượng người của một quốc gia. G7, một trong những tổ chức cho ra những quyết định quan trọng mà lại không có bất cứ quyền lực hợp pháp nào đang cố gắng tìm kiếm câu trả lời cho các vấn đề toàn cầu, nhưng nó cũng không đại diện cho thế giới, mà chỉ đại diện cho một bộ phận rất lớn của kinh tế thế giới. Cái mà chúng ta cần là các cấu trúc quản lý toàn cầu đủ mạnh, đặc biệt là Liên hợp quốc phải mạnh. Đó mới là cơ hội đem lại sự cân bằng trên cấp độ quốc tế giữa dân chủ xã hội và kinh tế thị trường. Chỉ có cơ hội này mới thực sự song hành cùng với đường lối của Đảng Dân chủ xã hội Đức: đưa cho thị trường tự do nhiều hơn có thể và kiểm soát nó chỉ ở mức cần thiết.

 

 

Người dịch: H.A. & L.H.

 



* Phó Chủ tịch Đảng Dân chủ xã hội, CHLB Đức.

 

 

The older news.............................