Văn hóa truyền thống và vấn đề xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở xứ Nghệ trong thời kỳ hội nhập

26/06/2014

 

 

VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG

NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở XỨ NGHỆ TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

 

             NGUYỄN THÁI SƠN *

              NGUYỄN VĂN SANG **

1.  Vài nét về văn hóa truyền thống xứ Nghệ

Theo Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận trong Các vùng văn hóa Việt Nam, xứ Nghệ bao gồm Nghệ An và Hà Tĩnh. Xứ Nghệ là nơi “địa linh, nhân kiệt”, do có những điều kiện tự nhiên và lịch sử khác biệt mà từ đó hình thành nên một nền văn hóa truyền thống có nhiều đặc trưng nổi bật.

Thứ nhất, đặc trưng văn hóa truyền thống của vùng được quy định bởi môi trường tự nhiên. Xứ Nghệ trong tổng thể không gian văn hóa Bắc Trung Bộ là sự hợp phân, đan xen và thâm nhập giữa núi rừng, đồng bằng, biển; địa hình nơi đây còn được mở rộng bởi quá trình “biển lùi”. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt khiến con ng­ười gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống. Cuộc vật lộn giữa con người với thiên nhiên diễn ra liên tục, được phản ánh khá đậm nét trong các thể loại văn hóa dân gian truyền thống của nhiều tộc người nơi đây.

Thứ hai, nguồn gốc lịch sử cũng có sự ảnh hưởng đến đặc trưng văn hóa truyền thống của xứ Nghệ. Cái tên cổ nhất về xứ Nghệ đ­ược biết đến từ thời Văn Lang là Việt Thường. Đến thời nhà Hán đô hộ gọi là Hàm Hoan, rồi gọi là Cửu Đức thời Tam Quốc và gọi là Hoan Châu thời nhà Đường. Mãi đến đời Lý Thái Tông (1033) mới đặt tên là Nghệ An thay cho tên Hoan Châu. Và tên đất Nghệ An (xứ Nghệ) đ­ược dùng đến giữa thế kỷ XIX thì chia ra hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Năm 1976, hợp lại thành Nghệ Tĩnh và đến năm 1991 lại tách ra làm hai tỉnh. Tuy là hai tỉnh như­ng lại có những nét chung t­ương đồng về khí hậu, phong thổ, tập tục, văn hóa, tín ngư­ỡng,... nên trong nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa, các nhà nghiên cứu đã xác định đây là một tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ. Trong suốt hành trình lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài, xứ Nghệ vốn là vùng biên viễn xa xôi, vì vậy những thế hệ đầu tiên sinh sống ở các làng xã nơi đây thường là những người ngang tàng, khí khái, tính cách có phần phóng túng, không thích sự bó buộc của những lễ nghi rườm rà, kiểu cách. Những thế hệ con cháu sau này ít nhiều cũng chịu những ảnh hưởng tương tự.

Hiện nay, chiếm tuyệt đại đa số cư dân đồng bằng ở Nghệ Tĩnh là dân tộc Kinh (Việt), ở miền núi chủ yếu là người Thái, H’Mông,... Ngoài ra còn có những tộc người cư trú thành từng làng nhỏ ven dãy Trường Sơn, như: người Đan Lai, Ly Hà, Cuối, Thổ, Tày Poọng, Chức, Bồ Lô, Mã Liềng, Cọi,... Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, đất Nghệ Tĩnh xưa vốn là một trong những địa bàn sinh tụ của người Việt cổ và bảo lưu nhiều yếu tố tiêu biểu cho nền văn hóa Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử thì xứ Nghệ là mảnh đất có truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm bất khuất. Nơi đây cũng là mảnh đất ươm mầm những nhân tài, những vị anh hùng dân tộc. Song song với quá trình tồn tại và vận động của lịch sử dân tộc, văn hóa xứ Nghệ bên cạnh yếu tố đậm đà bản sắc, giàu tính truyền thống thì còn cập nhật được yếu tố thời đại, thấm đượm chủ nghĩa yêu nước, anh hùng cách mạng. Do đó, bản sắc văn hóa ấy bên cạnh nét đặc trưng của dân tộc Việt Nam vẫn luôn mang dấu ấn riêng.

Trên những điều kiện tự nhiên, xã hội - lịch sử đó, nền văn hóa truyền thống xứ Nghệ được định hình, phát triển vô cùng phong phú, đa dạng.

Văn hóa truyền thống xứ Nghệ bao gồm đời sống văn hóa nghệ thuật khá phong phú và độc đáo thể hiện trong lối ứng xử với các dạng thức văn hóa hàng ngày, như: ăn, mặc, ở, đi lại; trong các tác phẩm kiến trúc, điêu khắc, trong hệ thống đình, chùa, miếu mạo, nhà thờ và cả trong lối sinh hoạt đậm chất dân gian với các điệu hò, câu ví,... Nói về văn hóa truyền thống xứ Nghệ, chúng ta không khó để có thể nhận ra rất nhiều nét đặc trưng. Chẳng hạn như về ẩm thưc, người xứ Nghệ không chế biến món ăn cầu kỳ, trước khi ăn ngon thì nhu cầu ăn lấy no thôi thúc việc sáng tạo văn hóa ẩm thực. Vì vậy, các món ăn của người xứ Nghệ rất dân dã, tiết kiệm bởi nguồn lương thực, thực phẩm không được dồi dào. “Chặt to, kho mặn” không chỉ là thói quen mà có lẽ đã trở thành văn hóa, không chỉ là cách chế biến thức ăn mà có lẽ đã trở thành một nét tính cách, một phong cách sống giản dị, phóng khoáng, đề cao tính hiệu quả.

Bên cạnh đó, do có sự đa dạng trong yếu tố địa lý, tự nhiên mà trên mảnh đất xứ Nghệ cũng đã kết tinh nhiều món ăn vừa mang tính đặc sản vừa có nét dân giã nổi tiếng, như: cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, hồng Nam Đàn, cháo lươn, cháo hến, cà pháo Nghi Lộc, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, kẹo Cu đơ,... Đặc biệt phải kể đến chè xanh xứ Nghệ là một nét văn hóa truyền thống độc đáo, đặc sắc, không giống với bất kỳ  vùng văn hóa nào trong cả nước. Có lẽ do chè được trồng ở một mảnh đất nhiều sỏi đá, thời tiết khắc nghiệt nên trong cây chè dường như đã hội tụ vị chát đắng đặc biệt của trời đất và mồ hôi của những người dân lam lũ. Tất cả những đặc trưng văn hóa ẩm thực này đã làm nên “bản sắc” văn hóa của xứ Nghệ, không trộn lẫn với bất kỳ vùng nào trong cả nước.

      Đến với xứ Nghệ, chúng ta không chỉ được ngắm biển trông non, được khám phá những cánh rừng nguyên sinh Pù Mát, Pù Huống, được tắm biển Cửa Lò, Quỳnh Phương, Diễn Châu, Nghi Thiết, Thiên Cầm, suối nước nóng Hương Sơn mà còn được chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc, di tích lịch sử nổi tiếng cả nước mang đậm nét đặc trưng xứ Nghệ.

Trong hệ thống di tích phong phú, đa dạng trên, chúng ta có thể điểm qua những nơi đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng nhân dân không chỉ ở Nghệ Tĩnh. Trước hết, xứ Nghệ nổi tiếng với bốn ngôi đền đẹp mà dân gian vẫn tương truyền: “Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”. Về với Nghệ An, chúng ta không thể không thăm Khu di tích Kim Liên. Nơi đây gắn liền với thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cụm di tích quan trọng là làng Hoàng Trù quê ngoại và làng Sen quê nội, mộ bà Hoàng Thị Loan và núi Chung, nhà thờ họ Nguyễn Sinh, nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm, nhà thờ cụ cử Vương Thúc Quý,…

Ngoài ra khi đến đây còn có thể được nhận thức một cách đầy đủ hơn về lịch sử, văn hóa và con người xứ Nghệ với quần thể di tích và điểm hẹn thiên nhiên hấp dẫn như núi Thiên Nhẫn, thành Lục Niên, khu mộ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ở xã Nam Kim, nhà lưu niệm Phan Bội Châu ở thị trấn Nam Đàn, đền thờ, lăng mộ Mai Hắc Đế và mộ mẹ nhà vua, đình Hoành Sơn, đền Hoàng Sơn, đình Trung Cần tại xã Khánh Sơn. Đến xứ Nghệ còn có đền Cuông thờ Thục An Dương Vương được đặt giữa sườn núi Mộ Dạ,…

 Hà Tĩnh có Chùa Hương Tích nằm trên dãy Hồng Lĩnh thuộc Thiên Lộc, Can Lộc. Tục truyền chùa do công chúa Diệu Thiện, con gái của Sở Trang Vương tạo dựng khi đến tu hành ở đây. Chùa Hương Tích là sự phối hợp tài tình giữa cảnh đẹp thiên nhiên và quần thể kiến trúc tôn giáo.

Ngoài ra, ở Hà Tĩnh còn phải kể đến hệ thống các di tích như: đền thờ Đặng Tất, Đặng Dung, đình Đỉnh Lự, mộ Bạch Liêu, chùa Am, đền Voi Mẹp, nhà thờ và mộ Lê Bôi, đền thờ Nguyễn Biểu, đền thờ Bùi Cầm Hổ, đền thờ Nguyễn Tuấn Thiện, mộ và đền thờ Nguyễn Lỗi, miếu Biện Sơn, đền Cả, đền thờ Nguyễn Văn Giai, chùa Yên Lạc, đền Chợ Củi, nhà thờ Phan Kính, chùa Tượng Sơn, nhà thờ, mộ Lê Hữu Trác, nhà thờ Nguyễn Thiếp, nhà thờ Nguyễn Du,… Đây là những di sản văn hóa vật thể hiện hữu trong đời sống của người dân nơi đây. Ngoài những đặc điểm chịu ảnh hưởng chung của văn hóa dân gian Việt Nam.

Văn hóa dân gian xứ Nghệ diễn ra vô cùng phong phú trên mảnh đất giàu truyền thống. Đó là một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và độc đáo đã được các nhà nghiên cứu tập hợp trong cuốn Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh do cố GS. Nguyễn Đổng Chi chủ biên. Đó là vô vàn truyện dân gian, từ sự tích các thắng cảnh thiên nhiên (núi, sông, đầm, rú,...), sự tích về các nhân vật thần thoại, về người tiên Phạm Viên, về ông thánh địa lý Tả Ao, và đặc biệt là truyền thuyết về các anh hùng lịch sử như Nguyễn Biểu, Nguyễn Xí, Đinh Liệt,... Đó là kho tàng tục ngữ, thành ngữ, câu đố, câu đối, hình thức nói lái,... hết sức phong phú. Đặc sắc nhất là các làn điệu dân ca ví, dặm như dòng sữa ngọt ngào đã nuôi dưỡng tâm hồn, cốt cách của bao thế hệ người dân Nghệ - Tĩnh. Đó là một thể loại văn nghệ dân gian độc đáo với giai điệu trữ tình, đằm thắm, sâu lắng. Hơn 40 làn điệu độc đáo của ví, dặm luôn hiện hữu và trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu trong cuộc sống thường nhật của người dân xứ Nghệ đã bao đời nay.

Kho tàng văn hóa dân gian phong phú và độc đáo của xứ Nghệ được thể hiện trong ngôn ngữ “rất xứ Nghệ”. Thổ âm ng­ười Nghệ nói trầm, nặng, ít cung bậc, ít bóng bẩy, nhiều từ cổ. Trong tiếng Nghệ, sự phong phú không chỉ là ở ngôn từ địa ph­ương mà còn ở ngữ âm, thanh điệu của tiếng nói, có khi hai làng gần nhau như­ng có giọng nói khác nhau, tạo nên tính hấp dẫn lạ thư­ờng trong nghiên cứu ph­ương ngữ học. Xứ Nghệ có một di sản dân ca rất phong phú với hát ả đào Cổ Đạm, hát giặm Hà Tĩnh, hát ví Nghệ Tĩnh. Hát giặm không phổ biến khắp xứ Nghệ mà chỉ thịnh hành ở một số địa phương như Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh,... với hai hình thức hát giặm nam nữ và hát giặm vè. 

Truyền thống sinh hoạt phường hội, sinh hoạt văn hóa dân gian như hò, vè, ví dặm là nét đặc trưng của Nghệ Tĩnh, đặc biệt là những nơi có phường lao động như phường vải, phường cấy, phường nón, phường võng, phường văn,... Chăn trâu có ví mục đồng, đi củi có ví trèo non, đi thuyền có ví đò đưa,... Hát ví ở mỗi phường lại có nét riêng. Ví phường vải Nam Đàn khác ví phường vải Thạch Hà, ví trèo non Diễn Châu khác ví trèo non Hồng Lĩnh. Riêng ví đò đưa cũng có dăm bảy điệu, ví sông Ngàn Phố mộc mạc, ví sông La sâu lắng, ví sông Lam đậm đà, ví đò đưa xuôi êm ả, thiết tha, ví đò đưa ngược lại gập ghềnh, gấp khúc,...

Đỉnh cao của dân ca xứ Nghệ là hát phường vải. Hát phường vải phổ biến nhất ở các vùng Nam Đàn, Đô Lương, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Can Lộc, Đức Thọ, Yên Thành, Hương Sơn,... là những nơi thịnh hành nghề kéo sợi, dệt vải, cũng là nơi trước đây nhiều anh khóa, nhà nho thích dự các cuộc hát phường vải, vừa phụ nghệ nhân tài tử, vừa làm “cố vấn nghệ thuật” trong cuộc thi tài.

Xứ Nghệ còn là xứ sở của những lễ hội cổ truyền với các phong tục đa dạng. Với việc diễn xướng sự tích, múa hát, với các trò vui như bơi chải, đua thuyền làm sống lại những kỳ tích lịch sử được nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn. Có thể nói những nét văn hóa truyền thống đặc trưng trên đây đã ảnh hưởng, đã ăn sâu vào tâm hồn, vào máu thịt của con người xứ Nghệ, đã góp phần tạo nên bao anh hùng dân tộc, bao danh nhân văn hóa, bao thi sĩ tài hoa, bao trí thức lừng danh cả nước trong các thời kỳ lịch sử trước đây.

2.   Ảnh hưởng của văn hóa truyền thống đến quá trình xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở xứ Nghệ trong thời kỳ hội nhập

Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập toàn diện với khu vực và quốc tế. Làm thế nào để hội nhập mà không bị hòa tan rõ ràng là một câu hỏi khiến không ít người phải băn khoăn, trăn trở. Làm thế nào để có được nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi khắt khe của thời kỳ hội nhập là một vấn đề quan trọng đang đặt ra trước mắt. Việc phân tích những ảnh hưởng, tác động của văn hóa dân gian đến quá trình xây dựng nguồn nhân lực trong quá trình xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là một trong những hướng đi góp phần giải đáp các vấn đề trên.

Theo chúng tôi, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng các yêu cầu của thời kỳ hội nhập là đội ngũ những con người khỏe mạnh về thể chất, phát triển về tâm hồn, trí tuệ, đạo đức. Đó là những con người được giáo dục, đào tạo theo những chuẩn mực tiên tiến của thời đại, là những con người nắm vững các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại, là con người tràn đầy năng lực hoạt động thực tiễn và có độ nhạy cảm thực tiễn cao. Cụ thể, đó là những con người có đầy đủ các phẩm chất như bản lĩnh, năng động, sáng tạo, sẵn sàng thích nghi với mọi biến đổi, sẵn sàng hòa nhập với những xu thế tiến bộ, cách mạng đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, con người đó cũng không hẳn là một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ, tách rời, biệt lập với quá khứ, với truyền thống, với cội nguồn,… Ngược lại, nguồn nhân lực chất lượng cao cho xu thế hội nhập phải là những con người hình thành nên từ truyền thống, phải mang trong mình những nét riêng, phong cách của văn hóa Việt Nam, truyền thống Việt Nam. Chính trên nền tảng đó, dễ thấy rằng con người xứ Nghệ trong sự tác động, ảnh hưởng của văn hóa truyền thống có những điều kiện vô cùng thuận lợi và cũng có những khó khăn không nhỏ cho quá trình phát triển, tiến tới một mẫu hình con người hiện đại, phát triển một cách hài hòa, hoàn thiện đáp ứng các tiêu chí đã nêu.

Trước hết cần khẳng định rằng chính điều kiện tự nhiên, văn hóa, lịch sử đã tạo cho con người xứ Nghệ một nét tính cách riêng dễ phân biệt với các địa phương khác. “Người Nghệ An khí chất chất phác, đôn hậu, tính tình từ tốn, chậm chạp, không sắc sảo, cho nên làm việc gì cũng giữ cẩn thận, bền vững, ít khi bị xao động bởi những lợi trước mắt”. “Phong tục thì thuần hậu, người thuận hòa, chăm học” (Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký).

Con người xứ Nghệ mang trong mình đậm nét văn hóa đặc trưng, đặc biệt là trong tính cách ứng xử giữa con người với con người thì cương trực, thẳng thắn “có răng nói rứa"” trong văn hóa ẩm thực “chặt to kho mặn”; trong trang phục “ăn chắc mặc bền”; hay trong giao tiếp thì “ăn to nói lớn”. Những nét đặc trưng này trong tính cách con người xứ Nghệ vừa có cái hay lại vừa có cái dở, vừa tạo ra những thuận lợi nhưng cũng gây ra không ít khó khăn cho quá trình xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở mước ta hiện nay. Con người xứ Nghệ thông minh, nhanh nhạy, cương trực, thẳng thắn, cởi mở. Đây là những ưu điểm, những thế mạnh dễ giúp con người nơi đây tiếp thu được tri thức cao của thời đại, dễ nắm bắt, tiếp nhận những thành quả khoa học, công nghệ tiên tiến. Những phẩm chất này là những phẩm chất cần thiết của con người mới, con người hiện đại, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên những phẩm chất này cũng rất dễ tạo nên những con người xứ Nghệ phóng túng, ngang tàng, ít nhiều có tính vô tổ chức, vô kỷ luật. Những nét tính cách tiêu cực, những phẩm chất phát triển  theo hướng không mong muốn này sẽ là những cản trở không nhỏ trên con đường hội nhập. Rõ ràng, làm thế nào để phát huy tối đa những phẩm chất quý giá mà văn hóa truyền thống đã tạo ra trong con người xứ Nghệ cũng như làm thế nào để hạn chế, triệt tiêu những nét tiêu cực là câu hỏi đặt ra không chỉ cho thời gian trước mắt mà cả trong những chiến lược, những kế hoạch lâu dài xuyên suốt thế kỷ XXI.

Văn hóa truyền thống xứ Nghệ đã góp phần tạo ra con người xứ Nghệ có những thô ráp, vụng về trong quan hệ ứng xử, tạo ra cái chất phác đáng yêu và cái khí khái đáng trọng trong tính cách, trong tâm hồn. Đặc điểm lịch sử tạo cho con người xứ Nghệ có những cá tính khác thường trong nếp sống, trong phong tục, trong đạo lý,... “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần”. Con người xứ Nghệ bảo lưu có lúc tới trì trệ, cái mới nhập vào cũng khó và cái cũ tan đi cũng không phải dễ. Cho nên trong nếp sống và quan hệ ứng xử, tuy vẫn có sự phân hóa nhưng con người xứ Nghệ vẫn giữ được nhiều cốt cách của truyền thống. Những nét cốt cách đó tạo nên những điều đặc biệt dễ nhận thấy mà thực tế lịch sử đã chứng minh. Trong những năm cuối thế kỷ XX, do sự khó khăn trong đời sống kinh tế, bằng nhiều con đường khác nhau, người xứ Nghệ hầu như đã tỏa đi khắp bốn phương trời. Không chỉ hầu như tất cả các vùng miền trong nước đều có dấu ấn của người Nghệ Tĩnh mà gần như tất cả các khu vực trên thế giới, ở tất cả những nơi có người Việt Nam sinh sống, làm ăn hầu như đều có người xứ Nghệ. Ở đâu họ cũng để lại những thành quả, những tác động lớn lao trên nhiều phương diện, cả tích cực lẫn tiêu cực. Những khó khăn kinh tế, những đặc điểm văn hóa, lịch sử nêu trên đã thúc đẩy những con người xứ Nghệ quyết chí học hành, thi cử đỗ đạt để đảm nhận những trọng trách, những vị trí xã hội tương xứng, thúc đẩy con người xứ Nghệ vươn lên làm giàu, trở thành những doanh nhân xuất sắc, rồi trở thành những nhà khoa học, những kỹ sư, những nhà sáng chế, phát minh, những người lao động giỏi ở khắp nơi. Tuy nhiên, trong số những người con xứ Nghệ đi xa cũng có không ít những người đã gây ra những điều tai tiếng, những ảnh hưởng xấu do bản chất ngang tàng cố hữu, do lối sống buông thả, vô tổ chức, vô kỷ luật, manh động,... Có lẽ tất cả những vấn đề đó đều có sự tác động ít nhiều của văn hóa truyền thống nơi đây.

Người xứ Nghệ rất giàu lý tưởng, lý tưởng vươn lên tới đỉnh cao, vượt lên thực tại. Nhưng trong đó cũng có tính chủ quan, bảo thủ đã trở thành nhược điểm trong suy nghĩ và hành động. Người xứ Nghệ còn nổi bật với chất trung kiên, sự chất phác, tính chân thực, khí tiết bền bỉ. Chính sự khắc khổ trong sinh hoạt do hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt đã tạo nên bản năng tự vệ, sẵn sàng ứng phó với mọi nguy nan có thể xảy ra. Trong sinh hoạt hằng ngày người dân phải phòng xa, hạn chế dục vọng, thiết thực trong nhu cầu ăn ở, thận trọng trong xử thế, dè dặt trong quy mô. Bên cạnh cái khô khan, khắc khổ, người ta còn gặp ở con người xứ Nghệ nét bướng bỉnh, ngang tàng nhưng phong cách sống rất cần kiệm, cẩn thận. Phải chăng những nét đối lập đó đã tạo nên những thuận lợi và cũng gây ra không ít những khó khăn trong quá trình đào tạo, xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập đang diễn ra như một xu hướng tất yếu hiện nay?

Trên dải đất Hồng Lam, trong truyền thống có rất nhiều nhân vật nổi tiếng, tài cao, học rộng, thể hiện sự vượt lên trước khó khăn, nghèo khổ và lam lũ. Đó là hình tượng “ông Đồ Nghệ” trong dân gian, là các danh nhân, sĩ tử. Đó là Nguyễn Biểu, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Lê Hữu Trác, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu, Trần Phú, Hà Huy Tập, Đặng Thai Mai, Hồ Chí Minh,... là những người đóng góp công lớn trong việc sáng tạo văn hóa tiểu vùng, vùng và đất nước. Trong số đó, không ít người là những danh sĩ có tài kinh bang tế thế ở quốc sự triều đình và cả ở sự nghiệp dạy chữ nghĩa cho các vùng khác nhau trên đất nước, đặc biệt là lãnh tụ Hồ Chí Minh, người khai sinh ra nước Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới.

Tuy nhiên cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, tất cả đều chỉ là những biểu hiện của những dấu ấn huy hoàng trong quá khứ, còn trong hiện tại và tương lai, trong bối cảnh của hội nhập, quốc tế hóa, toàn cầu hóa, trong bối cảnh của những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, trong bối cảnh của những thay đổi, phát triển như vũ bão ở tất cả các lĩnh vực, con người xứ Nghệ có duy trì được những thành tích huy hoàng đó không, có tiếp tục phát huy được những tố chất quý báu để xứng đáng với truyền thống đó hay không lại là vấn đề rất đáng để suy ngẫm...

Cũng dễ thấy rằng con đường tiến sâu vào thế giới tự do, hạnh phúc trong thế kỷ XXI không phải là con đường đi xuyên qua cánh đồng hoang của chủ nghĩa hiện đại không có cội nguồn. Truyền thống luôn là mắt xích không thể thiếu của lịch sử. Thiếu mắt xích đó, lịch sử sẽ gián đoạn, xã hội và con người hôm nay sẽ rơi vào hư vô. Lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, nền văn hóa giàu bản sắc với nhiều đặc trưng riêng biệt, tiềm năng trí tuệ, tố chất thể lực,... sẽ mãi mãi là cơ sở, là vốn quý góp phần làm nên sức mạnh, làm nên những con người xứ Nghệ hiện đại, hài hòa, năng động, thích nghi cao, sẵn sàng cho hội nhập và phát triển. Đó thực sự sẽ là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng mọi yêu cầu, mọi điều kiện đặt ra trong thực tiễn.

Tuy nhiên sẽ là thụ động nếu ta cứ cố gắng sao chép quá khứ, bảo tồn truyền thống một cách cứng nhắc. Truyền thống không phải là một tài sản cố định, nhất thành bất biến. Hơn nữa cần phải nói thêm rằng sự nhận thức về các khái niệm thời gian, quá khứ, hiện tại, tương lai sẽ là vô nghĩa trong một trạng thái xã hội lẫn con người không chịu thay đổi. Truyền thống chỉ không bị mai một và tỏ rõ sức mạnh của mình trong hiện tại nếu nó được soi xét và phát huy bởi hiện tại. Truyền thống phải luôn được đặt trong hoàn cảnh thực tiễn mới và do đó những cái phù hợp tự nó sẽ tồn tại và phát huy, cái lỗi thời tất yếu sẽ mất đi. Như vậy cái mới và cái cũ, cái lạc hậu và cái tiến bộ, cái tích cực và cái tiêu cực,... luôn luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau để cùng biến đổi và phát triển. Quá trình này luôn diễn ra trong đời sống hiện thực của mọi vùng miền, của mọi quốc gia và dân tộc. Tuy nhiên quá trình này sẽ được thúc đẩy nhanh hơn, diễn ra hợp lý hơn, sẽ bớt đi nhiều khâu trung gian, nhiều sự phức tạp không đáng có nếu được chính con người nhận thức và tác động bằng những chính sách khoa học, tiến bộ, nhân văn, bằng những việc làm, những hành động thực tiễn thiết thực, phù hợp. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi những nghiên cứu chuyên sâu hơn, đòi hỏi sự quan tâm thích đáng của những nhà lãnh đạo, những nhà khoa học và của toàn thể mọi người trong xã hội.

Tài liệu tham khảo

 

1.         Ban Nghiên cứu lịch sử tỉnh Nghệ Tĩnh (1984), Lịch sử Nghệ Tĩnh (tập I), Nxb. Nghệ Tĩnh, Vinh.

2.         Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, được khắc in vào khoảng đời Tự Đức (ở ngôi: 1847-1883), tức sau khi tác giả đã mất (1828).

3.         Đinh Gia Khánh (1993), Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, Nxb. Khoa học Xã hội.

4.         Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia.

5.         Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận (1995), Các vùng văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội.

6.         Hà Văn Tấn (1994), Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội.

7.         Nguyễn Đổng Chi (1995), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb. Nghệ An, Vinh.

8.         Ninh Viết Giao (2003), Về văn hóa xứ Nghệ, Nxb. Nghệ An.

9.         Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb. Trẻ, Hà Nội.

10.     Trần Viết Thụ (2006), Địa danh lịch sử - văn hóa Nghệ An, Nxb. Nghệ An.

11.     Trần Quốc Vượng (Chủ biên) (2001), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

 

 


* PGS. TS.; Trường Đại học Vinh.

** ThS.; Trường Trung cấp Kinh tế kỹ thuật Hồng Lam.