Tiếp cận bảo vệ môi trường ở Việt Nam từ góc độ quyền được hưởng môi trường trong lành

26/06/2014

 

TIẾP CẬN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ

QUYỀN ĐƯỢC HƯỞNG MÔI TRƯỜNG TRONG LÀNH

PHẠM THỊ TÍNH *

Bảo vệ môi trường (BVMT), bảo vệ các quyền con người (QCN) là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Song, việc tiếp cận QCN trong BVMT (hay BVMT dựa trên QCN) là vấn đề khá mới mẻ mặc dù cộng đồng quốc tế đã khẳng định BVMT là điều kiện tiên quyết cho việc bảo vệ các QCN. Một trong các mục tiêu chính của hoạt động BVMT là để hiện thực hóa quyền được sống trong môi trường trong lành. Một môi trường sạch và an toàn là quyền của con người chứ không phải ân huệ. Chính phủ có trách nhiệm tạo điều kiện cho mọi người dân đều được hưởng môi trường trong lành, an toàn và khỏe mạnh một cách bình đẳng. Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền thông qua các chính sách, biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm.

1. Cơ sở xác lập quyền được sống trong môi trường trong lành

Tuyên bố của Liên hợp quốc (LHQ) về Con người và Môi trường năm 1972 (Tuyên bố Stockholm) đã đưa quyền được sống trong môi trường trong lành thành một nguyên tắc của quan hệ giữa các quốc gia và luôn ở vị trí đầu tiên trong các nguyên tắc: “Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều kiện sống trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau”. Nguyên tắc 1 trong Tuyên bố Môi trường và Phát triển năm 1992 (Rio de Janeiro) cũng khẳng định: “Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên”.

Dự thảo Tuyên ngôn về nguyên tắc và các quyền con người (Draft Declaration on the Principles of Human Rights and the Environment) (1994) cũng xác nhận rằng: “mọi người đều có quyền được hưởng một môi trường an toàn, lành mạnh, có đặc tính sinh thái tốt. Quyền này cùng những quyền con người khác như quyền dân sự, văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội là những quyền phổ thông, phụ thuộc lẫn nhau và không thể phân chia”[1].

Mặc dù quyền được sống trong môi trường trong lành chưa được công nhận cụ thể trong luật nhân quyền quốc tế, và Dự thảo Tuyên ngôn về nguyên tắc và các quyền con người cũng chưa được thông qua, nhưng từ sau Tuyên bố Rio (1992) thì quyền này đã được ghi nhận ở hầu hết trong Hiến pháp các quốc gia, các Hiến chương quốc tế và khu vực, trong đó có Việt Nam. Bởi, việc thỏa mãn các quyền cơ bản của con người về mặt lâu dài phụ thuộc vào một môi trường lành mạnh có đặc tính sinh thái tốt. Chẳng hạn, quyền được hưởng một môi trường lành mạnh đã được công nhận như là một khía cạnh của quyền về sức khỏe trong luật nhân quyền quốc tế[2].

Sự ô nhiễm và sử dụng nước quá độ, sự xói mòn đất nông nghiệp, sự ô nhiễm không khí, sự xáo trộn hệ sinh thái tự nhiên và việc tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên là những mối đe dọa trong việc thực hiện những quyền cơ bản của con người, như: quyền sống, quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền sức khỏe, quyền phát triển,... Theo Báo cáo Phát triển Con người năm 2011, thì “sự xuống cấp của môi trường làm thui chột năng lực của con người theo nhiều cách khác nhau, vượt xa khỏi các khía cạnh thu nhập và sinh kế, gồm các tác động đối với y tế, giáo dục và các khía cạnh khác của đời sống”. Báo cáo dẫn dữ liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về gánh nặng dịch bệnh toàn cầu đưa ra những phát hiện đáng kinh ngạc về tác động tiêu cực của các yếu tố môi trường, trong đó nước không sạch và điều kiện vệ sinh không đầy đủ là một trong mười nguyên nhân hàng đầu dẫn đến dịch bệnh trên khắp thế giới. Hàng năm, các bệnh dịch liên quan đến môi trường, trong đó có viêm đường hô hấp cấp và tiêu chảy gây tử vong cho ít nhất 3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi của các nước Áo, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Thụy Sĩ gộp lại[3].

Trường hợp 103 trẻ em dưới 10 tuổi ở thôn Đông Mai (xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) có hàm lượng chì vượt chuẩn trong máu (khuyến cáo của Trung tâm Phòng chống bệnh tật Mỹ, hàm lượng chì trong máu của trẻ em không được vượt quá 10mg/dl), trong đó 2 trẻ có hàm lượng chì ở mức nguy hiểm, 17 trẻ ở mức báo động, 04 trẻ ở mức cao và 01 trẻ ở mức ranh giới. Đây là hậu quả của hoạt động tái chế chì trong thôn diễn ra suốt 30 năm nay khiến môi trường địa phương bị ô nhiễm chì nặng. Các loại rau, cá của làng cũng có hàm lượng nhiễm chì vượt tiêu chuẩn 4,6 lần. Theo Tiến sĩ Phạm Duệ, giám đốc Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai: trẻ em nhiễm độc chì đến 70mg/dl thì bị hội chứng não cấp, phù não, các rối loạn khác, có thể dẫn đến tử vong. Ô nhiễm chì làm trẻ chậm phát triển trí tuệ, suy giảm chỉ số IQ, thay đổi hành vi, tính tình. Khi mẹ mang chì trong máu thì con cũng nhiễm qua đường bú sữa. Vì thế, nguy cơ ảnh hưởng đến thế hệ sau có thể xảy ra[4]. Các bằng chứng y khoa khác cũng cho thấy, việc tiếp xúc với chì trong một thời gian dài có thể dẫn đến việc óc bị hư hại, bệnh nặng, ung thư và tử vong[5].

Có thể nói, các QCN sẽ không thể được bảo đảm trong môi trường bị ô nhiễm và  suy thoái. Đây là quyền chính đáng gắn với phẩm giá con người và sự phát triển của xã hội, văn minh nhân loại. Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền thông qua các chính sách, biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường.

Trách nhiệm tôn trọng: không được can thiệp vào việc thụ hưởng quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người dân, gồm cả việc đảm bảo không có nhóm đối tượng nào bị từ chối hoặc bị hạn chế tiếp cận môi trường sống trong lành.

Trách nhiệm bảo vệ: đảm bảo không có bên thứ ba nào xâm phạm việc thụ hưởng quyền được sống trong môi trường trong lành. Ví dụ, để các trẻ em ở thôn Đông Mai sinh ra từ năm 2015 không bị nhiễm chì trong máu thì ngay lập tức Chính phủ (chính quyền địa phương và các ban, ngành chức năng có liên quan) phải có biện pháp kiểm soát hoạt động tái chế chì của các hộ gia đình trong thôn, như: chấm dứt hoàn toàn việc tái chế chì trong thôn, di dời hoạt động tái chế ra xa khu dân cư, có các biện pháp xử lý bằng chuyên môn nghiệp vụ để giảm tối đa lượng chì đang nhiễm trong môi trường thôn,...

Trách nhiệm thực hiện: có hành động tích cực để thực hiện quyền, như ban hành luật pháp, chính sách hay các biện pháp ngân sách phù hợp. Cụ thể như: xây dựng chiến lược/kế hoạch quốc gia về BVMT dựa trên QCN,... Chiến lược nhằm giải quyết các quan ngại về sự ô nhiễm, suy thoái môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của tất cả mọi người, bao gồm cả các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương hoặc bị gạt ra ngoài lề xã hội.

Không phải quốc gia nào cũng có đủ nguồn lực để đảm bảo các QCN cho tất cả mọi người ngay lập tức. Để đạt được mục tiêu đó cần có thời gian và nguồn lực, nguyên tắc hiện thực hóa dần dần - chính phủ các nước thực hiện dần từng bước, song cần nhanh chóng và phải có hiệu quả hết mức có thể, hướng tới hiện thực hóa quyền được sống trong môi trường trong lành. Tất cả các nước cần có những bước đi cẩn trọng, cụ thể và có mục tiêu, sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có, gồm cả biện pháp thông qua hợp tác quốc tế. Về phía chủ thể quyền, mọi người có thể sử dụng quyền như một phương tiện, công cụ để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng quyền còn phụ thuộc vào kiến thức và sự hiểu biết quyền của người dân, cũng như việc sẵn sàng sử dụng những kiến thức về quyền như một công cụ cho sự thay đổi mà quyền có thể có được.

2. Hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam nhìn từ góc độ quyền con người

Quan điểm về BVMT và phát triển bền vững đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định và đề cập rất sớm trong: Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000 (trước Tuyên bố Rio năm 1992); Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, được sửa đổi, bổ sung năm 2004 (có hiệu lực năm 2005); Nghị định 26/CP, Chỉ thị 36 (25/6/1998) của Bộ Chính trị khóa VIII; Nghị quyết số 41 (15/11/2004) của Bộ Chính trị khóa IX về tiếp tục BVMT trong thời kỳ mới; Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (2006); Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020,... Phát triển bền vững từ lâu đã trở thành đường lối, quan điểm nhất quán của Đảng và chính sách của Nhà nước ta. Song việc gắn kết, lồng ghép vấn đề QCN và môi trường hay tiếp cận BVMT dựa trên QCN vẫn là vấn đề mới mẻ ở nước ta cho dù tất cả mọi hoạt động BVMT đều vì môi trường sống trong lành cho tất cả mọi người. Trên thực tế, các giải pháp đề ra chưa đạt được hiệu quả như mong đợi, vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa luật pháp và thực thi luật pháp. Môi trường tự nhiên vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, với mức độ nghiêm trọng đáng báo động, công tác BVMT đang đứng trước những thách thức gay gắt. Quyền được sống trong môi trường trong lành bị xâm hại ở nhiều nơi, nhiều lúc, có nơi ở mức độ nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến đời sống của một bộ phận nhân dân. Tuy nhiên, việc giải quyết các tranh chấp môi trường còn nhiều vấn đề bất cập.

2.1. Bảo vệ quyền bằng biện pháp hành chính                               

Nghị định 117/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT được ban hành trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, 2008. Từ 30/12/2013, áp dụng Nghị định 179/2013/NĐ-CP (14/11/2013). Có thể thấy, Nhà nước ta đã liên tục điều chỉnh mức độ xử lý và bổ sung các hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật BVMT với những vi phạm các quy định quản lý nhà nước về BVMT do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà chưa phải là tội phạm: các hành vi gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí), vi phạm các quy định về quản lý chất thải, các hành vi vi phạm các quy định khác về BVMT,... 

Mỗi doanh nghiệp khi đi vào hoạt động, ngoài những khía cạnh tích cực đem lại cho xã hội, như: cung cấp thêm hàng hóa, dịch vụ, đóng góp vào ngân sách quốc gia, giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho một số người nhất định,... thì cũng làm xuất hiện nhiều vấn đề xã hội. Đặc biệt, khi mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận lại được bảo vệ bởi quyền tự do kinh doanh với tư cách là một quyền cơ bản của con người. Nhiều doanh nghiệp đã không từ bất cứ thủ đoạn nào để tối đa hóa lợi nhuận. Hàng loạt những hành vi không lành mạnh của doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề xả thải chưa qua xử lý gây ô nhiễm và suy thoái đất, nước, không khí,... Trong khi đó, mức độ và hình thức xử lý chưa đủ mạnh. Trường hợp Công ty Vedan tại huyện Long Thành - Đồng Nai xả thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vải suốt 14 năm gây ô nhiễm trên diện rộng (3 tỉnh). Thanh tra môi trường xử phạt hành chính 267 triệu đồng, truy thu hơn 127 tỉ đồng phí BVMT. Hình thức truy thu phí này không mang tính răn đe, mà phải yêu cầu doanh nghiệp có biện pháp khắc phục môi trường và nộp khoản tiền thu lợi từ hành vi vi phạm.

Một bất cập khác trong xử lý gây ô nhiễm môi trường (ONMT) là công tác giám sát khắc phục môi trường sau nộp phạt hành chính không được thực hiện, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp chỉ nộp tiền phạt xong là có thể coi như đã chấp hành xong quyết định xử phạt. Như vụ Nicotex Thanh Thái chôn hơn 900 tấn thuốc trừ sâu quá hạn xuống đất, từ năm 2008 đến khi bị phanh phui (9/2013) đã có 10 đoàn đến thanh tra, xử phạt, nhắc nhở. Tháng 4/2012, Chi cục Bảo vệ thực vật Thanh Hóa kiểm tra, vẫn đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng, cơ sở đạt loại A; Vụ Công ty Hào Dương xả thải vi phạm từ năm 2007 đã bị xử phạt hành chính 9 lần, lần cao nhất là 340 triệu đồng, doanh nghiệp cứ nộp phạt rồi lại tiếp tục hoạt động và ngang nhiên xả thải;... những việc làm này gây tổn hại vô cùng lớn cho môi trường nhưng chưa có vụ nào bị phạt đến 500 triệu đồng, vậy liệu có đủ sức trừng phạt và răn đe[6].

Vì mức xử lý như trên nên đa số các doanh nghiệp chọn hình thức xả thải, nộp phạt hơn là bỏ ra một khoản tiền lớn đầu tư hệ thống xử lý môi trường. Bên cạnh đó là cách xử lý kiểu nửa vời, hình thức, chủ yếu là phạt hành chính và nhắc nhở. Sau mỗi kỳ có thanh tra, khiếu kiện thì hình thức gian lận lại tinh vi hơn, kín đáo hơn và mức độ vi phạm lại nghiêm trọng hơn. Hầu hết các vụ vi phạm lớn bị phát hiện đều do lực lượng cảnh sát môi trường và người dân chứ không phải do cơ quan thanh tra.

2.2. Bảo vệ quyền bằng biện pháp tư pháp

 Cơ sở pháp lý cho quyền tiếp cận tư pháp (TCTP) được Hiến pháp quy định tại Điều 74 (Điều 30 Hiến pháp sửa đổi 2013); Điều 9 Bộ luật Dân sự; Điều 128 Luật BVMT. Quyền TCTP trong lĩnh vực BVMT xảy ra trong 3 trường hợp sau:

a) Quyền tiếp cận thông tin về môi trường bị từ chối hoặc bị vi phạm.

Căn cứ vào những quy định của Hiến pháp, Luật BVMT và một số văn bản pháp luật có liên quan, cá nhân, tổ chức có thể sử dụng quyền TCTP để bảo vệ quyền tiếp cận thông tin môi trường (TCTTMT) trong trường hợp bị từ chối hoặc vi phạm. Vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin... (Điều 103.2, 3); công khai thông tin, dữ liệu môi trường (Điều 104.1, 2, 3),... Nếu chủ doanh nghiệp, cơ quan chuyên môn không thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin đồng nghĩa với quyền TCTTMT của người dân bị vi phạm. Theo Điều 58 Nghị định 117-CP về biện pháp công khai thông tin về tình hình ô nhiễm và vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp gây ONMT nghiêm trọng, cơ quan ra quyết định xử phạt có quyền chủ động công khai trên các website chuyên ngành, các phương tiện thông tin đại chúng về vi phạm của doanh nghiệp nhằm răn đe những trường hợp tương tự. Với các doanh nghiệp vi phạm, bị phạt tiền nhiều hay ít không đáng ngại bằng việc bị công khai ra trước dư luận vì sợ ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh doanh nghiệp, sợ bị người tiêu dùng tẩy chay (trường hợp Vedan). Năm 2008, Ban quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh đã công khai “danh sách đen” các doanh nghiệp gây ô nhiễm trên địa bàn và hiệu quả thấy rõ là các doanh nghiệp sau đó chạy đua với thời gian để khắc phục vi phạm nhằm sớm được rút tên khỏi danh sách. Tuy nhiên, nhiều cán bộ, cơ quan có thẩm quyền xử phạt lại cho rằng chỉ những trường hợp vi phạm bị kết luận là nghiêm trọng mới phải cung cấp thông tin cho báo chí. Vì thế, rất nhiều vụ vi phạm được phát hiện, xử phạt nhưng khi báo chí đề nghị cung cấp thông tin thì chỉ nhận được cái lắc đầu với lý do “không được phép công khai”. Mặc dù các mức độ “nghiêm trọng” đã được quy định nhưng thực tế để lượng hóa mức độ này còn nhiều vấn đề.

Khi đoàn khảo sát của Viện Nghiên cứu Con người đi thực địa trong khuôn khổ đề tài: “Một số vấn đề cơ bản về QCN với môi trường và điều kiện đảm bảo thực thi ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 vì mục tiêu phát triển con người” vào năm 2011 - 2012 tại 3 tỉnh Đồng Nai, Bình Định, Hòa Bình nhận thấy: chưa nơi nào thực hiện quy định công khai về thông tin môi trường. Hầu hết cán bộ chuyên môn (cấp sở, huyện và xã) đều cho rằng đó là thông tin nhạy cảm, họ không có quyền tiết lộ và họ cũng không nắm được, chỉ Ban quản lý khu công nghiệp mới biết. Họ cũng không có trách nhiệm phải cung cấp hay công khai thông tin. “Nếu có người đến xin thông tin, chúng tôi nói để xin ý kiến lãnh đạo/ ý kiến cấp trên sẽ trả lời sau”! Dù vậy nhưng cho đến nay chưa có trường hợp nào khiếu nại hoặc khởi kiện vì không được đáp ứng quyền TCTP .

Có thể nói, nhận thức và ý thức của người dân về bảo vệ quyền TCTTMT còn rất nhiều hạn chế. Trách nhiệm công khai thông tin môi trường, công khai danh sách các cơ sở gây ONMT của các doanh nghiệp chưa được các cơ quan chuyên môn triển khai cũng là một yếu tố khiến các doanh nghiệp tái phạm nhiều lần. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý môi trường gần như chưa làm tròn trách nhiệm và không tuân thủ các quy định của pháp luật.

b) Quyền tham gia vào hoạt động BVMT bị từ chối hoặc bị vi phạm

Đối với những vi phạm quy định về lấy ý kiến của UBND xã, phường, thị trấn và cộng đồng dân cư trong quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) (Điều 1.4 Nghị định 21/2008/NĐ-CP); vi phạm quy định về tổ chức đối thoại về môi trường (Điều 105); vi phạm quy định về khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về môi trường (Điều 128) và một số quy định khác thì cá nhân, tổ chức hoàn toàn có quyền khiếu nại, hoặc khởi kiện ra tòa khi có căn cứ cho rằng đã có những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về BVMT, vi phạm quyền tham gia vào hoạt động BVMT của cá nhân, tổ chức. Mọi cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu yêu cầu đối thoại của họ bị từ chối,... Các trình tự, thủ tục của quá trình này phải tuân thủ pháp luật về khiếu nại tố cáo và các văn bản pháp luật có liên quan. Trường hợp quyền khiếu nại, tố cáo bị vi phạm thì người giải quyết khiếu nại, tố cáo nếu có một trong các hành vi quy định tại Điều 96 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2006[7] thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Thực tế cho thấy, ý thức chấp hành Luật BVMT, chấp hành các quy định về báo cáo ĐTM không được chấp hành nghiêm ngay từ khâu lập, thẩm định phê duyệt, kiểm tra thực hiện. Báo cáo ĐTM là barie quan trọng đầu tiên mà các dự án phải vượt qua, nhưng thực trạng nhiều bản ĐTM chất lượng kém, mang tính đối phó, không đáp ứng được các yêu cầu của Điều 20; và rất nhiều dự án vẫn được triển khai mà chưa hề có ĐTM, đến khi xảy ra sự cố, thanh kiểm tra mới thấy chưa hề có ĐTM. Luật cũng chưa quy trách nhiệm của người lập, người thẩm định, người phê duyệt, người kiểm tra, giám sát thực hiện các cam kết trong ĐTM khi xảy ra tình trạng gây ô nhiễm hoặc sự cố môi trường.

Về phía người dân, một mặt do thiếu hiểu biết, kinh nghiệm trong ĐTM nên ngại tham gia, mặt khác do thói quen thụ động, ỉ lại, coi đó là việc của cơ quan chuyên môn, của chính quyền địa phương nên thường thờ ơ, kể cả việc tham gia góp ý vào văn bản pháp luật khi có sự trưng cầu lấy ý kiến người dân, hoặc có tham gia thì chỉ mang tính hình thức, điểm danh “đánh trống ghi tên”.

c) Khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường (hòa giải dân sự)

Cơ sở để các tổ chức, cá nhân khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi gây ONMT được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp, Điều 127, 130, 131, 132, 133, 134.2 Luật BVMT. Đây là quá trình hiện thực hóa nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.

Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần do những hành vi trái pháp luật gây ra. Từ ngày 18/01/2011, khi có tranh chấp môi trường, áp dụng Nghị định 113/2010/NĐ-CP. Theo Bộ luật Dân sự: tổ chức, cá nhân làm môi trường bị ô nhiễm, suy thoái phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đối với môi trường do mình gây ra, đồng thời phải chi trả toàn bộ chi phí xác định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trên cơ sở dữ liệu, chứng cứ và kết quả tính toán thiệt hại, cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết bồi thường theo các hình thức: thỏa thuận việc bồi thường, yêu cầu trọng tài giải quyết, khởi kiện tại tòa án. Khoản tiền bồi thường (sau khi trừ chi phí xác định thiệt hại) được dùng để đầu tư khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải tạo môi trường nơi xảy ra ô nhiễm.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán, với các điều kiện:

 Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại vừa là điều kiện phát sinh trách nhiệm vừa là cơ sở tính mức bồi thường. Theo điều 130 Luật BVMT gồm: 1) Thiệt hại đối với môi trường tự nhiên; 2) Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.

Căn cứ để xác định mức độ thiệt hại đối với môi trường tự nhiên là Điều 131.2 Luật BVMT: i) Xác định giới hạn, diện tích của khu vực, vùng lõi bị suy giảm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; ii) Xác định giới hạn, diện tích vùng đệm trực tiếp bị suy giảm; iii) Xác định giới hạn, diện tích các vùng bị ảnh hưởng từ vùng lõi và vùng đệm. Xác định thiệt hại về: tài sản bị xâm phạm (Điều 608); sức khỏe bị xâm phạm (Điều 609); tính mạng bị xâm hại (Điều 610); danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 611) Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP;...

 Có hành vi gây thiệt hại vi phạm pháp luật:  Hành vi trái pháp luật do các chủ thể có năng lực hành vi và năng lực pháp luật thực hiện, làm ô nhiễm, suy thoái môi trường, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của các cá nhân, tổ chức.

 Có quan hệ nhân quả giữa hành động gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra: Trong lĩnh vực môi trường, hành vi xả thải trái pháp luật không làm phát sinh ngay hậu quả, nó xảy ra khi lượng chất thải vượt quá khả năng tự đào thải của môi trường, gây ô nhiễm và suy thoái, thảm họa môi trường. Thời gian tối thiểu 5 năm trở lên tùy vào trạng thái môi trường.

Nhìn chung, việc bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường tại Việt Nam là vấn đề khá mới cả từ phương diện lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, cho dù chế định này có phát triển đến mức nào, chi phí bỏ ra để xử lý, cải thiện, phục hồi môi trường lớn đến đâu cũng không thể khắc phục được hết những hậu quả do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra. Yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm và suy thoái môi trường là một quyền cơ bản của con người đã được pháp luật ghi nhận nhưng đến nay, việc giải quyết còn rất nhiều vướng mắc, trong khi những tranh chấp môi trường xảy ra ngày càng nhiều, chưa có vụ nào được đưa ra xét xử tại Tòa, cũng chưa có vụ bồi thường thiệt hại nào dưới danh nghĩa bảo vệ QCN, và chưa một đơn vị nào bồi thường để hồi phục môi trường.

2.3. Bảo vệ quyền bằng các chế tài hình sự

Trước tình hình vi phạm pháp luật môi trường ngày càng gia tăng với diễn biến phức tạp, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm đã gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, xã hội, pháp luật Việt Nam, ngoài việc đưa ra các biện pháp xử lý hành chính, hòa giải dân sự về bồi thường thiệt hại đối với những vi phạm trong lĩnh vực BVMT còn có các hình phạt nghiêm khắc đối với các tội phạm về môi trường. Tuy nhiên, trong số 10 tội danh về tội phạm môi trường được quy định trong Bộ luật Hình sự, đến nay mới có 2 tội danh bị khởi tố điều tra và đưa ra xét xử là tội hủy hoại rừng (Điều 189) và vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm (Điều 190). Các trường hợp đã bị khởi tố và tuyên án, như: vụ săn bắn trộm bò rừng ở vườn quốc gia Ea Sô (Đắk Lắk, 2003) mức án cao nhất là 3 năm tù giam, không có hình thức phạt tiền kèm theo; vụ vận chuyển và buôn bán, xẻ thịt nấu cao hổ ở nhà 103b, B5, Tập thể Thanh Xuân Bắc (Hà Nội, 2007) mức án cao nhất là 30 tháng tù giam. Còn hàng trăm vụ bị lực lượng cảnh sát môi trường, người dân bắt quả tang các hành vi xả nước thải, đổ, chôn chất thải độc hại chưa qua xử lý ra môi trường gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất, sức khỏe của nhân dân quanh vùng thì chưa có vụ nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cho dù các quy định về tội phạm môi trường đã có hiệu lực hơn chục năm qua. Những vụ sai phạm lớn như vụ Vedan (Long Thành - Đồng Nai), Miwon (Việt Trì - Phú Thọ), thuộc da Hào Dương (Nhà Bè - Tp. Hồ Chí Minh), Công ty sửa chữa tàu biển Huyndai -Vinashin xả hạt nix độc hại ra môi trường (Khánh Hòa), các công ty nhập khẩu phế thải, phế liệu điện tử về Việt Nam với khối lượng lớn,... đều chỉ bị phạt hành chính.

   Rõ ràng tình trạng tội phạm môi trường ngày càng gia tăng, gây hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội và con người, tuy nhiên, Bộ luật Hình sự hiện còn nhiều bất cập và mức phạt chưa đủ mạnh để răn đe. Điều này đã và đang tạo nên những lỗ hổng lớn trong hệ thống quản lý và BVMT cũng như bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành, làm hạn chế tính răn đe và thực thi của luật pháp. Do vậy, đã đến lúc cần phải thay đổi cách tiếp cận và nhận thức trong BVMT, đó là BVMT gắn với bảo vệ QCN để hoàn thiện cơ sở pháp luật về môi trường cũng như công tác giám sát thực thi pháp luật về BVMT ở Việt Nam. Quyền này đã được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ.

 2.4. Bảo vệ quyền thông qua lực lượng cảnh sát môi trường

Cục Cảnh sát Môi trường được thành lập ngày 6/7/2007 trong bối cảnh: “cả nước có hơn 4.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ONMT. Mặc dù các tội xâm phạm môi trường đã được quy định trong Bộ luật Hình sự nhưng đến nay vẫn chưa có vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường nào bị khởi tố, xử lý hình sự[8]. Cục Cảnh sát Môi trường ra đời có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi gây ONMT; góp phần tích cực vào công tác BVMT. Lực lượng cảnh sát môi trường đã phát hiện và xử lý hàng nghìn vụ vi phạm pháp luật về BVMT, truy thu hàng trăm tỷ đồng. Một vài vụ việc và con số[9] lực lượng cảnh sát môi trường đã khám phá thời gian qua, như:

- Phát hiện một số nhân viên bệnh viện Lao, Việt Đức, Bạch Mai, K, Chợ Rẫy, Hùng Vương,... thu gom chất thải y tế nguy hại tuồn ra ngoài bán cho người thu mua phế liệu...

- Bắt quả tang Công ty Vedan Việt Nam, Công ty AB Mauri, Công ty Sonadezi Long Thành, Nhà máy Miwon và Giấy Việt Trì,... xả thải trực tiếp ra môi trường; Công ty Tung Kuang - Hải Dương xả thải có hóa chất độc hại; Nhà máy tàu biển Huyndai Vinashin tập kết hạt xỉ đồng và đổ chất thải ra môi trường; Công ty Sông Xanh chôn lấp hơn 4.600m3 chất thải và cát nhiễm dầu;...

- Phát hiện hàng ngàn vụ vi phạm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và quản lý chất thải nguy hại, nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu, rác thải chứa chất thải nguy hại: Công ty cổ phần Vận tải hàng không Phương Nam nhập khẩu 28 container (546,056 tấn) dầu nhớt thải từ Trung Quốc,... khoảng 100 dự án không được Hội đồng Thẩm định ĐTM thông qua, không có biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường: dự án mở rộng mỏ than Na Dương, Lạng Sơn, dự án lấn biển ở Hải Phòng,…

- Từ năm 2010 đến năm 2012, phát hiện hơn 3.000 vụ vi phạm, xử lý hành chính gần 1.000 vụ vi phạm luật an toàn thực phẩm, hàng thực phẩm tạm nhập tái xuất tiêu thụ nội địa, sử dụng chất tạo nạc trong chăn nuôi lợn, sử dụng hóa chất cấm trong sản xuất thực phẩm,...

Có thể nói, lực lượng cảnh sát môi trường có vai trò rất quan trọng trong đấu tranh phòng chống các hành vi gây ô nhiễm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ QCN được sống trong môi trường trong lành. Các vụ vi phạm bị lực lượng cảnh sát môi trường phanh phui thời gian qua góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm, giảm số vụ ngộ độc thực phẩm và các vụ ô nhiễm nghiêm trọng, giảm thiệt hại về kinh tế do ảnh hưởng đến sức khỏe, tiền bạc cho công tác phục hồi môi trường,... đồng thời có tác dụng giáo dục và răn đe các cá nhân, tổ chức đã và đang có hành vi phá hoại môi trường nhưng chưa bị phát hiện, các cá nhân đang có ý định gian dối chuẩn bị thực hiện hành vi gian lận,...

2.5. Bảo vệ quyền thông qua hoạt động tư vấn, trợ giúp pháp lý, luật sư

Nghị định số 07/2007/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật trợ giúp pháp lý 2006, Điều 34 quy định: “Người nghèo, đối tượng chính sách và nhóm yếu thế khác được trợ giúp pháp lý về 08 lĩnh vực pháp luật trong đó có vấn đề môi trường”. Quy định này giúp nhóm yếu thế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại, nâng cao nhận thức pháp luật cho họ để không bị thua thiệt trong cuộc sống. Bên cạnh đó còn giúp nâng cao dân trí và xóa đói giảm nghèo cho người dân. Các hoạt động tư vấn, trợ giúp pháp lý do trợ giúp viên, luật sư, cộng tác viên trợ giúp pháp lý thực hiện với nhóm người nghèo, đối tượng chính sách và nhóm yếu thế được trợ giúp miễn phí và theo dõi chất lượng, kết quả vụ việc. Có thể nói, vụ người dân 3 tỉnh (Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu) kiện Công ty Vedan xả thải gây ô nhiễm sông Thị Vải là vụ có sự tham gia trợ giúp pháp lý của lực lượng luật sư đông nhất từ trước đến nay. Riêng 2 xã của huyện Long Thành, Đồng Nai (Phước Thái và Nhơn Trạch) đã có trên 100 luật sư trên địa bàn tỉnh đến tư vấn, hướng dẫn và giúp người dân làm các thủ tục khởi kiện Vedan.

Việc xác định thiệt hại và khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là vấn đề khá phức tạp, việc chứng minh chứng cứ là các yếu tố gây ô nhiễm phải dựa trên cơ sở khoa học, người dân không thể theo đuổi vụ kiện bởi chưa chắc đã được xử lý mà lại mất thời gian, công sức, tốn kém,… Vì vậy, các trung tâm tư vấn, trợ giúp pháp lý, các luật sư là một trong các chủ thể có vai trò tích cực trong việc tư vấn, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích của người dân khi bị xâm hại bởi ONMT.

2.6. Vai trò của cán bộ công chức, người dân trong bảo vệ quyền

Để quyền đi vào cuộc sống thì vấn đề không thể thiếu là sự tham gia của các chủ thể trách nhiệm tại địa phương (người thừa hành) và chủ thể quyền (người dân).

 Vai trò của cán bộ công chức, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn trong hoạt động BVMT: Như trên đã đề cập, mặc dù đã được pháp luật quy định về trách nhiệm, thẩm quyền nhưng đa phần cán bộ quản lý, công chức chuyên môn đều “rất lơ mơ” và chưa thực hiện theo quy định của luật về trách nhiệm của mình, chưa thấy sự cần thiết phải có sự tham gia của người dân trong ĐTM. Nhiều cán bộ môi trường cho rằng, người dân thiếu kiến thức để tham gia, việc có mặt của họ sẽ cản trở hoặc làm chậm tiến độ, thậm chí có thể làm cho dự án phải chịu chi phí thực hiện cao hơn. Thực tế, đã có nhiều dự án khi đang triển khai phải tạm ngừng vì gặp phải sự phản đối của người dân địa phương và công luận do những tác động tiêu cực của dự án đến môi trường: dự án thủy điện sông Tranh 2, dự án xây nhà cao tầng trong khuôn viên công viên Lênin - Hà Nội,... Có thể nói, nhiều cán bộ quản lý môi trường không nắm được quy trình thẩm định ĐTM và tầm quan trọng của ĐTM trong các dự án phát triển: “làm sao chúng tôi có thể giải thích và thúc đẩy người dân tham gia vào ĐTM khi mà chúng tôi cũng hiểu chưa rõ về điều này. Trong các buổi làm việc mà chúng tôi được mời, hầu hết là họ bàn đến việc giải phóng mặt bằng cho dự án và việc đền bù đất đai, nội dung ĐTM hầu như không được nhắc đến”[10] (Cán bộ phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Lắk, Đắk Lắk). Sự có mặt của đại diện các ban, ngành ở địa phương chỉ là thủ tục để kí biên bản thông qua dự án.

Vai trò chủ thể của người dân: “Quyền của mọi công dân có khả năng nhận và sử dụng được những thông tin về môi trường do các cơ quan có thẩm quyền nắm giữ” (Điều 104.1; 105.2 Luật BVMT); Pháp lệnh Dân chủ cơ sở cũng ghi nhận rất rõ quyền “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra,...”, và được triển khai rất hiệu quả, tuy nhiên chủ yếu là áp dụng trong khu dân cư. Đối với các doanh nghiệp thì vai trò tham gia của người dân còn hạn chế, nếu có đó là trưởng các ban ngành, đoàn thể (hội phụ nữ, hội nông dân,...). Có thể nói, mặc dù Hiến pháp, Luật BVMT đã ghi nhận các quyền của công dân, như quyền tham gia, quyền tiếp cận,... nhưng thiếu cơ chế cho chủ thể quyền tham gia, đặc biệt là việc tham gia vào ĐTM. Các hoạt động giáo dục, truyền thông, nâng cao kiến thức về quyền và trách nhiệm của người dân trong ĐTM hầu như chưa có. Người dân hầu như không hiểu được ĐTM là gì, tại sao cần có chữ ký của họ? Họ cho rằng ý kiến của họ sẽ không được chính quyền, dự án nghe, họ tham gia chỉ là cho đủ thủ tục “Chúng tôi không biết gì về ĐTM, chẳng ai hỏi chúng tôi điều gì cả, có hỏi chúng tôi cũng chẳng biết gì mà nói. Khi nào họ gây ô nhiễm quá không chịu được thì kêu, mà kêu thì đã chắc gì có ai giải quyết” (người dân sống gần KCN Tuy Phước, Bình Định, tháng 3/ 2012).

Kết quả khảo sát của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) về đánh giá “Chỉ số công lý: thực trạng công bằng và bình đẳng dựa trên ý kiến của người dân” năm 2012 (khảo sát 5.045 người tại 21 tỉnh, thành). Khi hỏi về thực trạng ô nhiễm và khiếu nại về môi trường, có gần 31% người được hỏi cho rằng họ đang sống trong môi trường bị ô nhiễm, chủ yếu là ô nhiễm nguồn nước, không khí và tiếng ồn. Nhưng, chỉ có 12% số người được hỏi sống ở khu vực ô nhiễm đã khiếu nại hoặc khiếu kiện tới chính quyền yêu cầu khắc phục tình trạng ô nhiễm và bồi thường thiệt hại. Điều này phần nào cho thấy sự bất cập trong cơ chế phản hồi các vướng mắc và khiếu nại của người dân về ONMT ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, còn thiếu các cơ chế pháp lý bảo vệ người dân trong yêu cầu giải quyết các tranh chấp môi trường[11] đang là những rào cản cho việc bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành. Tỉ lệ số người trả lời đã khiếu nại về ô nhiễm có 2,4% ở nhóm có vị thế xã hội (cao gấp ba lần so với tỉ lệ trung bình của toàn mẫu khảo sát là 0,89%); tỉ lệ phụ nữ đã khiếu nại là 0,9%, người có học vấn thấp là 0,7%, người nghèo là 0,1%[12].

Có thể thấy, sự quan tâm của các nhóm xã hội gắn liền với các lợi ích và giá trị thiết thực mà họ theo đuổi trong cuộc sống. Người nghèo và người có học vấn thấp thường quan tâm đến vấn đề lao động, việc làm; nhóm có vị thế trong xã hội gần như không có khiếu nại về chính sách xã hội, nhưng là nhóm có nhiều quan ngại về chất lượng môi trường sống hơn các nhóm dân số khác. Khi hỏi về phương thức lựa chọn giải quyết khi có tranh chấp môi trường, có đến 90% người được hỏi chọn phương án “không làm gì cả”, khoảng 5% chọn phương án “khiếu nại”, tỉ lệ chọn phương án “khiếu kiện” hầu như không có. Trong lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp môi trường, có đến 9% chọn cơ quan dân cử để phản ánh về ô nhiễm và yêu cầu giải quyết. Toàn bộ 07 trường hợp khiếu kiện môi trường thì mới có 01 trường hợp đã giải quyết bồi thường xong, còn 06 trường hợp vẫn đang giải quyết ở thời điểm khảo sát. Đặc biệt, với các khiếu nại về môi trường và chính sách xã hội có khoảng 21% - 22% tổng số các yêu cầu của người dân không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ các cơ quan nhà nước ở địa phương. Có lẽ đây cũng là lý do vì sao khi có tranh chấp thì có đến 90% người được hỏi nói “không làm gì cả”.

3. Một số kiến nghị

Mặc dù quyền được sống trong môi trường trong lành chưa được bộ luật nhân quyền quốc tế ghi nhận một cách cụ thể nhưng nó đều được ghi nhận trong các hiến chương khu vực và hiến pháp quốc gia. Đến nay, đã có ít nhất 120 hiến pháp ghi nhận quyền này[13]. Một số hiến pháp ghi nhận các quy tắc về quyền môi trường, một số quốc gia khác lại cụ thể hóa các điều khoản chung thành mỗi cá nhân đều có quyền cơ bản được sống trong môi trường lành mạnh. Ở Việt Nam, tháng 1/2014, quyền được sống trong môi trường trong lành đã được ghi nhận trong Hiến pháp mới chính thức có hiệu lực.

Việc bổ sung các quyền, trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành vào Hiến pháp cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất xem trọng vấn đề nâng cao vị thế cho người dân và tạo điều kiện cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của họ. Một môi trường sạch và an toàn là quyền cơ bản của con người chứ không phải ân huệ[14], điều này sẽ thúc đẩy sự bình đẳng, không hạn chế khả năng tiếp cận của những người nghèo, người yếu thế và có thể có tác động đến các ưu tiên của Chính phủ cũng như việc phân bổ nguồn lực cho việc bảo đảm quyền.

Bên cạnh việc công nhận sự bình đẳng về mặt pháp lý của tất cả mọi người trong việc thụ hưởng quyền được hưởng môi trường trong lành, một yêu cầu mới đặt ra là cần có các thể chế và cơ quan chịu trách nhiệm bảo đảm quyền. Có thể là một cơ quan tư pháp công bằng và độc lập chuyên giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường để bảo vệ quyền lợi cho người dân khi bị các cơ quan quản lý và doanh nghiệp xâm phạm quyền.

Khi quyền đã được ghi nhận trong Hiến pháp thì nó phải có cả giá trị nội tại và giá trị công cụ. Thông thường, những sự cách biệt lớn về vị thế dẫn đến những sự cách biệt lớn trong các kết quả môi trường. Ngược lại, việc nâng cao vị thế các chủ thể quyền có thể đem lại các kết quả môi trường tích cực một cách đồng đều. Dân chủ là yếu tố quan trọng, nhưng hơn thế nữa, các thể chế cần có trách nhiệm giải trình, minh bạch và phục vụ mọi đối tượng. Cần có các hoạt động nhằm tăng cường khả năng cho những nhóm thường bị gạt ra ngoài, như nhóm thiểu số, nhóm phụ nữ,... Thực tế đã chứng minh, nếu nhóm này được tạo điều kiện tham gia sẽ có sự gắn kết với các kết quả bền vững hơn[15].

Hệ thống pháp luật BVMT hiện nay được coi là khá đầy đủ so với các tiêu chuẩn quốc tế, nhưng hầu hết các quy phạm mới dừng ở dạng nguyên tắc chung có tính định khung, chưa có văn bản nào chú trọng việc lồng ghép cách tiếp cận QCN trong BVMT. Các quy định chưa làm rõ trách nhiệm của chủ thể chính và chủ thể có liên quan nên khi có tranh chấp môi trường các chủ thể trách nhiệm thường đùn đẩy nhau (trường hợp vụ Vedan), hoặc nhiều đoàn cùng đến thanh/kiểm tra một cơ sở gây khó khăn cho doanh nghiệp. Các chủ thể quyền thì lúng túng bởi không quy định rõ về quy trình, thủ tục để người dân tham gia vào việc giám sát, BVMT, ĐTM, vào quá trình ban hành các quyết định và tiếp cận tư pháp trong lĩnh vực môi trường. Đây là lí do công tác BVMT chưa thu hút, lôi cuốn được quần chúng nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp tham gia giám sát BVMT.

Luật BVMT đang tiến hành sửa đổi, vì vậy để Luật phát huy hiệu quả, cần rà soát, đánh giá hiện trạng pháp luật, bổ sung, hoàn thiện theo hướng lồng ghép cách tiếp cận QCN vào việc hoạch định chính sách và các luật có liên quan đến BVMT. Cần hoàn thiện hơn các quy định về xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và xử lý thật nghiêm khắc đối với các trường hợp tái phạm. Cần bổ sung, hoàn thiện cơ chế khiếu kiện (thủ tục, trình tự khiếu kiện) đòi bồi thường thiệt hại do ONMT và cơ quan tiếp nhận đơn, giải quyết các tranh chấp để người dân dễ tiếp cận.

Cần xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý môi trường đối với từng ngành, từng lĩnh vực và đưa ra những quy định nghiêm ngặt về tiêu chuẩn phát thải, kiểm soát ô nhiễm nước, không khí và giám sát ô nhiễm chất độc hại. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội, nỗ lực ngăn chặn và cùng kiểm tra ONMT.

Cần tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, phát huy và thúc đẩy các quyền của cộng đồng, tăng cường sự tham gia của nhân dân vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách BVMT; tăng cường sự tham gia và chia sẻ lợi ích cộng đồng trong các vấn đề quản lý, giám sát, phát hiện và tố giác các hành vi gây ONMT.

Tăng cường bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và nâng cao nhận thức, trách nhiệm về BVMT đối với cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, lực lượng chuyên ngành; Quy chế độ trách nhiệm rõ ràng và xử lý nghiêm minh khi họ không hoàn thành trách nhiệm, gây hậu quả cho cộng đồng và người dân.

Đầu tư trang thiết bị máy móc, cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật và nguồn lực tài chính phục vụ cho công tác chuyên môn.

Tài liệu tham khảo

1.         Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật (2010), Quyền con người: tập hợp những bình luận/ khuyến nghị chung của Ủy ban Công ước LHQ, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội.

2.         UNDP, Tóm tắt Báo cáo Phát triển con người 2011.

3.         Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (2013), “Chỉ số công lý - thực trạng công bằng và bình đẳng dựa trên ý kiến của người dân năm 2012”, Hà Nội, tr.27.

4.         Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013.

5.         Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường, 1993, 2005.

6.         Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Hình sự (sửa đổi, 2009).

7.         Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự  (sửa đổi, 2005).

8.         Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,  Luật Khiếu nại, tố cáo, năm 2006.

9.         Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

10.     Lê Huy: “Ô nhiễm môi trường công nghiệp, môi trường đô thị và tác động của chúng đến con người”,

        http://www.scribd.com/doc/37623352/O-NHI%E1%BB%84M-MOI-TR%C6%AF.

11.     Nguyễn Đình Đáp, “Tiếp cận Quyền con người trong bảo vệ môi trường”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Kỳ 1, Tháng 8/2013.

12.     Đào Thị Minh Hương, Báo cáo đề tài cấp Bộ năm 2011 - 2012: “Một số vấn đề cơ bản về QCN với môi trường và điều kiện đảm bảo thực thi ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 vì mục tiêu phát triển con người”.

13.     Đỗ Thị Hiện, “Nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa con người với tự nhiên - cơ sở quan trọng của việc giáo dục môi trường ở Việt Nam hiện nay”.

14. “Những đứa trẻ mang chì trong máu”,  http://www.tin247.com/nhung_dua_tre_mang_chi_trong_mau-10-22459086.h.

15.     “Bảo vệ nhân quyền Úc”, Tháng 7/2005, Dữ kiện số 6. Trích từ The Lead Education and Abatement Design Group, Website, www.lead.org.au, truy cập ngày 25/3/2004.

16.     Nguyễn Như Phát, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: một số vấn đề lý luận”, Kỷ yếu hội thảo kinh doanh và QCN, tr.2.

 


* ThS.; Viện Nghiên cứu Con người.

[1] UN Doc. E/CN.4/Sub.2/1994/9, Annex I (1994).

[2] Ủy ban LHQ về Quyền Kinh tế, xã hội và văn hóa, Bình luận chung số 14, “Quyền được hưởng tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe cao nhất - The right to the highest attainable standard of health”, UN Doc E/C.12/2000/4, đoạn 9.

[3] UNDP, “Bền vững và công bằng: một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người”, tóm tắt Báo cáo Phát triển con người năm 2011, tr.8.

[4] “Những đứa trẻ mang chì trong máu”, http://www.tin247.com/nhung_dua_tre_mang_chi_trong_mau-10-22459086.h.

[5] “Bảo vệ nhân quyền Úc”, Tháng 7/2005, Dữ kiện số 6, Trích từ The Lead Education and Abatement Design Group, website: www.lead.org.au, Ngày 25/3/2004.

[6] Minh Trang, “Quốc hội đã thảo luận về công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm”, Đại biểu Lê Thị Nga (Thái Nguyên) nêu vấn đề thực trạng vi phạm pháp luật môi trường (thứ 5, ngày 07/11/ 2013).

[7] Điều 96 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2006 quy định các hành vi: 1)Thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; 2) Gây phiền hà, sách nhiễu, cản trở việc thực hiện quyền khiếu nại tố cáo; 3) Cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; 4) Làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; 5) Ra quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo trái pháp luật; 6) Không kịp thời áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; 7) Đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại tố cáo, bao che cho người bị khiếu nại, tố cáo.

[8] Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường Phạm Khôi Nguyên phát biểu tại lễ ra mắt Cục cảnh sát Môi trường.

[9] Báo cáo của đại tá Nguyễn Sỹ, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Bộ Công an đưa ra tại Hội thảo khoa học: “Chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường” do Ủy ban Khoa học, Công nghệ & Môi trường của Quốc hội tổ chức ngày 7/8/2013. http://hoinuocsachmoitruongbrvt.com/vi/trang-chu/Thong-tin-ve-moi-truong/60-nuoc-thai-cong-nghiep-xa-thang-ra-song-90/.

[10] Thông tin thu được trong chuyến khảo sát thực địa của Viện Nghiên cứu Con người tại Đắk Lắk, tháng 7/2010.

[11]Tổng số 1.545 tranh chấp các loại ghi nhận từ khảo sát, số vụ việc được đưa tới Tòa án yêu cầu giải quyết là 51. Trong đó 27 vụ liên quan tới đất đai, 14 vụ dân sự, 7 vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, 2 vụ tranh chấp kinh tế giữa người dân với nhau và 1 vụ về chính sách xã hội.

[12] Chương trình Phát triển LHQ (2013), “Chỉ số công lý - thực trạng công bằng và bình đẳng dựa trên ý kiến của người dân” năm 2012, Hà Nội, tr.27.

[13] UNDP, Tóm tắt Báo cáo Phát triển Con người 2011, tr.12.

[14] UNDP, Tóm tắt Báo cáo Phát triển Con người 2011, tr.2.

[15] UNDP, Tóm tắt Báo cáo Phát triển Con người 2011, tr.13.