Cách tiếp cận quy định về nhân quyền trong Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

26/06/2014

CÁCH TIẾP CẬN QUY ĐỊNH VỀ NHÂN QUYỀN TRONG HIẾN PHÁP MỚI

  CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

NGUYỄN ĐĂNG DUNG *

VŨ CÔNG GIAO **

1.Một số ưu điểm của Hiến pháp năm 2013

Sau gần 2 năm soạn thảo và thảo luận ở các cấp độ khác nhau từ trung ương đến địa phương, ngày 28 tháng 11 năm 2013, Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua.

So với các Hiến pháp trước đây, nhất là Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp mới cô đọng, ngắn gọn hơn. Bản Hiến pháp này chỉ gồm 120 điều, 11 Chương và Lời nói đầu. Nhìn chung, về cơ bản, bản Hiến pháp mới không có nhiều thay đổi so với Hiến pháp năm 1992. Nhưng điểm thay đổi lớn nhất, đồng thời cũng là điểm sáng nhất của Hiến pháp mới là những quy định về quyền con người và quyền công dân. Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quyền con người và quyền công dân trong Hiến pháp chưa bao giờ được các nhà soạn thảo cân nhắc cẩn trọng như lần này. Từ vị trí thứ năm, Chương Quyền công dân trong Hiến pháp năm 1992 được chuyển lên vị trí thứ hai trong Hiến pháp mới thể hiện sự quan tâm vượt bậc, cũng như nhận thức của các nhà lập hiến Việt Nam về tầm quan trọng của quyền con người và quyền công dân. Có thể nói rằng, mọi chương, mọi điều của Hiến pháp mới đều trực tiếp hoặc gián tiếp nói về quyền con người.

Lần đầu tiên trong một bản hiến văn có hiệu lực tối cao quy định rõ ràng ba quyền: quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ và quyền tư pháp thuộc về Tòa án. Trong Hiến pháp năm 2013 không những có sự phân công rõ ràng như vậy, mà còn có cả tinh thần của sự kiểm soát quyền lực nhà nước. Phân quyền hay cách gọi của Việt Nam là phân công, phân nhiệm, kiểm soát quyền lực nhà nước không thể có mục đích nào khác là bảo vệ quyền con người. Bởi con người và hạnh phúc của con người luôn phải là trung tâm của sự phát triển xã hội. Đây cũng là lý do giải thích tại sao những người soạn thảo Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới khước từ yêu cầu phải ghi rõ quyền con người trong bản thảo lần thứ nhất của họ, bởi theo họ: Chỉ cần phân quyền, kìm chế và đối trọng thì nhân quyền đương nhiên phải được bảo đảm. Nhưng cuối cùng thì với một cuộc đại thảo hiệp, cả nhân quyền và cả phân quyền đều có trong nội dung của bản Hiến pháp đó.1

Rất khác với trước đây, Tòa án nhân dân được Hiến pháp giao trách nhiệm thực hiện quyền tư pháp có nghĩa vụ trước tiên phải bảo vệ quyền con người, quyền công dân trước bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của nhà nước.

Vì vậy, không chỉ Chương II - chương giành riêng cho việc quy định quyền con người và quyền công dân, mà tất cả nội dung của bản Hiến pháp mới đã toát lên một tinh thần bảo vệ quyền con người.

Đi sâu hơn vào nội dung Chương II, chúng ta thấy Hiến pháp mới có những thay đổi rất cơ bản sau đây:

- Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, nhất là kể từ khi có chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quá trình soạn thảo Chương về quyền con người và quyền công dân đã được đối chiếu một cách tương đối toàn diện với tiêu chuẩn của các quy định nhân quyền trong các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia kí kết. Cách quy định của chương này, về cơ bản là dựa trên nền tảng của các quy định trong Công ước quốc tế về nhân quyền: trước hết là các quyền con người trong lĩnh vực dân sự, chính trị, sau đó là các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa.

 - So với các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp mới đã không còn đồng nhất quyền con người và quyền công dân như ở Điều 50 của Hiến pháp năm 1992, mà đã sử dụng, phân biệt hai thuật ngữ này một cách rất hợp lý. Bởi vì quyền con người là quyền tự nhiên của mọi người, còn quyền công dân là quyền của những người có quốc tịch Việt Nam. Như vậy, Hiến pháp Việt Nam không chỉ bảo vệ công dân của mình mà còn bảo vệ mọi người nói chung, đáp ứng nhu cầu của công cuộc hội nhập quốc tế.

- Cách thức hiến định về các quyền con người có sự thay đổi căn bản, từ công thức nhà nước “quyết định”, nhà nước “trao” quyền cho người dân, sang công thức các quyền của con người là tự nhiên, vốn có, Nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện, mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà nước. Điều đó thể hiện bằng các cụm từ vô nhân xưng cho tất cả mọi người, mọi công dân, không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính,... Đây là một thể hiện quan trọng bậc nhất trong tư duy chính trị pháp lý của Việt Nam. Đúng như lập luận trong phán quyết của các thẩm phán tiên tiến nhất trên thế giới rằng:

“Mục đích của luật nhân quyền/ Tuyên ngôn nhân quyền là việc rút bớt một số chủ đề nhất định ra khỏi các cuộc tranh cãi chính trị, đặt chúng ra ngoài tầm với của các chính trị gia và các quan chức nhà nước và coi chúng là những nguyên tắc pháp lý mà tòa án phải áp dụng. Các Quyền con người như: quyền được sống, tự do, sở hữu, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, và các quyền cơ bản không thể là kết quả của việc bỏ phiếu, chúng không thể phụ thuộc vào bất cứ một cuộc bầu cử nào”2

- Hiến pháp năm 2013 ghi nhận đầy đủ cả ba nghĩa vụ của nhà nước đối với nhân quyền là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người theo tinh thần của luật nhân quyền quốc tế, không như quy định quá sơ sài của Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận nghĩa vụ tôn trọng (Điều 50). Nhà nước theo tinh thần của Hiến pháp mới phải có ba nghĩa vụ nói trên đối với tất cả các quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp. Việc không thực hiện bất kỳ một trong ba nghĩa vụ nói trên đều có thể cấu thành hành vi vi phạm quyền con người từ phía nhà nước. Ví dụ như quyền sở hữu nhà ở (Điều 32) của người dân sẽ bị coi là vi phạm nếu nhà nước tùy tiện cưỡng chế, trục xuất người dân ra khỏi nhà ở của họ (trách nhiệm tôn trọng); sẽ là vi phạm khi nhà nước không ngăn chặn được sự vi phạm nhà ở của người dân bởi bên thứ ba (trách nhiệm bảo vệ); sẽ cũng là vi phạm nếu như nhà nước không tạo điều kiện đảm bảo được nơi ở tối thiểu cho người dân (trách nhiệm bảo đảm).

- Hiến pháp mới ghi nhận một số quyền mới, bao gồm: Quyền sống (Điều 19); Các quyền về văn hóa (Điều 41); Quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); Quyền của công dân không bị trục xuất, giao nộp cho nước khác (Điều 17). 

- Hiến pháp mới đã củng cố hầu hết các quyền hiện có (quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng), bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật (Điều 16); Cấm tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục (Điều 20); Bảo vệ đời tư (Điều 21); Tiếp cận thông tin (Điều 25); Tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); Bỏ phiếu trong trưng cầu dân ý (Điều 29); Xét xử công bằng (Điều 31); Tư hữu tài sản (Điều 32); An sinh xã hội (Điều 34); Nơi ở hợp pháp (Điều 22),...

- Đặc biệt là quy định liên quan đến bị can, bị cáo, những người đang ở trong vòng lao lý, đang có sự tranh chấp đều có quyền đầy đủ của con người với nguy cơ có thể bị tước bỏ. Đây là cái rốn trũng nhất và nhạy cảm nhất của nhân quyền. Hiến pháp mới đã có nhiều gia cố nhất định về quyền của người bị tạm giam, bị tạm giữ, bị xét xử: quyền không bị bắt khi không có quyết định của Tòa án, hoặc không có quyết định được phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang; quyền được suy đoán vô tội, quyền được tòa án xét xử kịp thời, quyền không bị kết án hai lần về một tội phạm; quyền được bồi thường thiệt hại khi bị oan sai,… (Điều 31), quyền được xét xử hai cấp, và quyền được bào chữa (Điều 103),… Đây cũng là điểm được nhấn mạnh và rất được quan tâm trong bản Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới. Ngay khi bản Hiến pháp này vừa được thông qua đã phải đính kèm thêm 10 tu chính án tương ứng với 10 điều khoản nói về nhân quyền của nước Mỹ. Trong 10 điều khoản ấy có tới 2/3 tổng số điều quy định về quyền của bị can, bị cáo. Đó là các quyền được xét xử công bằng, quyền im lặng, quyền không tự buộc tội chính mình, quyền không bị xét xử hai lần về cùng một tội phạm, quyền không bị xử phạt một cách tàn bạo và bất thường. Đó cũng là những  nhân quyền cơ bản của họ và những quyền của con người đứng trước ngưỡng cửa nguy cơ có thể bị tước bỏ. Đứng trước thời khắc này mà nhân quyền còn bị vi phạm thì có thể nói rằng không ở đâu có thể có được sự an toàn tuyệt đối cho quyền con người của họ. Đây cũng là điểm đáng tự hào của người Mỹ khi họ phải đắn đo cân nhắc phê hay không phê chuẩn các Công ước quốc tế về nhân quyền. Mặc dù là quốc gia có sáng kiến thành lập ra Liên hợp quốc và có đại diện quan trọng tham gia dự thảo Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế,3 nhưng nước Mỹ lại không phải là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn Công ước về nhân quyền. Sở dĩ như vậy vì họ cho rằng, Công ước không có gì vượt qua được những điều đã được quy định trong Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới của họ cách đó gần 200 năm trước4.

Những thay đổi nói trên khiến cho chế định này trong Hiến pháp mới của Việt Nam càng phù hợp hơn với nội dung của các điều ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên, cũng như với chế định về quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp các nước dân chủ. Phần lớn những thay đổi trên nhằm khắc phục những hạn chế của chương V Hiến pháp năm 1992 và các Hiến pháp trước đây. Tinh thần nhân quyền của Hiến pháp mới phải được thể hiện trong tất cả các dự luật. Những đạo luật hiện hành nào chưa thể hiện được tinh thần đó đều cần phải được sửa đổi. Chính cách đặt vấn đề bảo vệ quyền con người được đặt lên trước việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước được ghi nhận trong Hiến pháp mới sẽ làm cho mục đích của các Bộ luật Hình sự và Tố tụng Hình sự sắp sửa đổi cũng phải đặt nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân lên trên việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của chế độ như trước đây.  

Vì vậy, với cách tiếp cận này, các quy định về quyền con người và quyền công dân của Hiến pháp mới hứa hẹn các quyền hiến định sẽ được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm đúng đắn, hiệu quả hơn trong thực tế. Quyền lực nhà nước có cơ sở hiến định cho việc hạn chế, để bảo vệ quyền con người của người dân theo đúng tinh thần của nhà nước pháp quyền và của chủ nghĩa hiến pháp (Constitutionalism).

2.Một số hạn chế trong Hiến pháp năm 2013

 Tuy nhiên so với tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế, Hiến pháp mới vẫn còn một số hạn chế nhất định, mà trong quá trình triển khai thực hiện cần phải có những biện pháp hạn chế hoặc khắc phục tối đa những tác hại của chúng:

Thứ nhất, ở khoản 2 Điều 14 Hiến pháp quy định:

 “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng”.

Nhiều người trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi cho rằng, sửa đổi trên đã nhầm lẫn giữa hai vấn đề khác biệt trong luật nhân quyền quốc tế5. Đó là limitation of human rights (“giới hạn của quyền”) và derogation of human rights (“hạn chế việc thực hiện quyền” hay “tạm đình chỉ/dừng thực hiện quyền”).6 Chính từ đây sẽ có nguy cơ gây ra những hậu quả nghiêm trọng về lập pháp và thực thi pháp luật. Với quy định đã được thông qua như ở phần trên thì bất cứ quyền con người, quyền công dân nào cũng sẽ bị hạn chế (giới hạn) trong các trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng. Trong khi đó, một số quyền cần thiết phải được giới hạn trong mọi thời điểm mà không cần đợi đến khi xuất hiện tình trạng nói trên. Theo luật nhân quyền quốc tế, quyền tự do hội họp luôn được kèm theo điều kiện vì “hòa bình”;7 quyền tự do lập hội có thể bị hạn chế với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát;8 quyền tự do ngôn luận có thể bị hạn chế để phòng ngừa sự xâm hại danh dự, nhân phẩm, đời tư của người khác, bí mật quốc gia, đạo đức cộng đồng hay để ngăn ngừa những hành động kích động chiến tranh, hằn thù, phân biệt đối xử về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,…9

Ngược lại với công thức trên, trong khi đề cập đến vấn đề hạn chế thực hiện quyền, quy định trên của Hiến pháp năm 2013 đã không kèm theo những ngoại trừ đối với các quyền tuyệt đối (non-derogable rights), mà theo luật nhân quyền quốc tế, các quốc gia không được phép giới hạn hay đình chỉ thực hiện trong bất kỳ bối cảnh nào, kể cả vì lý do an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng. Đó là các quyền sống, quyền không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay nhục hình; quyền không bị bắt làm nô lệ, nô dịch; quyền không bị tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng; quyền được suy đoán vô tội; quyền được thừa nhận tư cách thể nhân trước pháp luật và quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo.10

  Những hạn chế này sẽ tạo cơ sở cho việc lợi dụng hoặc tùy tiện, đưa ra lý do vì tình trạng khẩn cấp để xâm phạm các quyền tuyệt đối của người dân từ phía những người thi hành công vụ của nhà nước. Việc triển khai thực hiện Điều 15 nói trên của Hiến pháp có nguy cơ không tuân thủ Điều 5 của Công ước quyền chính trị và dân sự của Liên hợp quốc:

“Không một quy định nào trong Công ước này có thể được giải thích với cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia hay tiến hành bất kỳ hành động nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào được Công ước này thừa nhận hoặc nhằm giới hạn những quyền và tự do quá mức mà Công ước này quy định”.

Thuật ngữ “An ninh quốc gia” có thể được viện dẫn để biện minh cho các biện pháp nhằm giới hạn một số quyền của con người chỉ khi chúng được thực hiện để bảo vệ sự tồn tại của quốc gia hay toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị, chống lại vũ lực hoặc đe dọa vũ lực. An ninh quốc gia không thể được viện dẫn như là một lý do áp đặt những giới hạn để ngăn chặn mối đe dọa đến pháp luật và trật tự chỉ ở phạm vi địa phương. An ninh quốc gia cũng không thể được sử dụng như là một lý do cho việc áp đặt giới không rõ ràng hay tùy tiện và chỉ có thể được viện dẫn khi có đầy đủ các biện pháp bảo vệ và chế tài hiệu quả chống lại sự lạm dụng.11

 Thứ hai, khoản 2 Điều 15 quy định: “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Điều này chỉ là điều viết khác đi dự thảo đã từng được công bố trước đây là: “Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm đến lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Dù có được chỉnh lại đi chăng nữa thì ngữ nghĩa của quy định này không thay đổi. Cũng gần tương tự như điều khoản hạn chế quyền con người ở phần trên, điều này còn rất nhiều tranh luận, thậm chí còn thực sự không cần thiết, vì khái niệm “lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích hợp pháp của người khác” quá rộng và mơ hồ, tiềm ẩn nguy cơ quy định này bị lạm dụng, lợi dụng để vi phạm các quyền hiến định.12 Hơn nữa, việc xâm phạm đến lợi ích của quốc gia, cũng như quyền lợi ích của người khác đều đã được quy định rõ ràng và cụ thể trong các chương, điều luật của Bộ luật Hình sự như: Chương XI về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, Chương XII, Chương XIII, Chương IV về các tội xâm phạm các quyền tự do, dân chủ, tính mạng, sức khỏe của người dân,… mà không cần thiết quy định ở một điều chung trong Hiến pháp. Việc quy định những điều khoản như phân tích trên không thuộc phạm vi của Hiến pháp. Phần quy định về quyền con người chỉ bao gồm các quyền phải được liệt kê ra cho đủ, để nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm. Đây cũng là lý do rất xác đáng được các nhà soạn thảo bản dự thảo Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới viện dẫn ra để phản đối ý kiến chống lại họ.13

Thứ ba, chủ thể quyền. Một trong những tiến bộ nổi bật của Hiến pháp mới là chuyển đổi đại từ nhân xưng chỉ chủ thể quyền từ “công dân” sang “mọi người” hoặc “không ai”, trong nhiều điều khoản của Chương II. Điều này phù hợp với bản chất của các quyền liên quan và tạo điều kiện để thực thi các quyền đó trong thực tế. Sự thay đổi đó nói lên tính phổ quát của các quyền được quy định trong Hiến pháp, không có một sự phân biệt nào. Mặc dù vậy, vẫn còn một số quyền và tự do cần được áp dụng với tất cả mọi người nhưng hiện vẫn chỉ được quy định dành cho công dân, bao gồm: Tự do đi lại, cư trú (Điều 23); Tự do biểu đạt, lập hội, hội họp, biểu tình (Điều 25); Quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); Quyền được quyết định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ (Điều 42),… Việc giới hạn chủ thể quyền chỉ là công dân với những quyền và tự do này là không phù hợp với luật nhân quyền quốc tế và có thể bị coi là sự phân biệt đối xử với người nước ngoài sinh sống hợp pháp ở Việt Nam. Ví dụ, xét về quyền tự do đi lại, cư trú, Điều 12(1) ICCPR quy định rằng, “Bất cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó”.

Như vậy, việc chỉ quy định “công dân có quyền tự do đi lại, tự do cư trú” rõ ràng không phù hợp với Điều 12 ICCPR. Tương tự, khi quy định về các quyền tự do biểu đạt, lập hội, hội họp, biểu tình, quyền của các nhóm thiểu số được giữ gìn bản sắc của mình (các Điều 19, 21, 22, 27 ICCPR), quyền có mức sống thích đáng (bao gồm nơi ở); quyền được giáo dục (các Điều 11, 13 ICESCR), các Công ước này đều sử dụng đại từ nhân xưng “mọi người” để chỉ chủ thể quyền, hoặc sử dụng cách diễn đạt để hàm ý rằng những quyền này không chỉ áp dụng với công dân ở một quốc gia.

Thứ tư, thuật ngữ “theo luật” và “theo pháp luật” là những thuật ngữ được dùng tương đối phổ biến ở Hiến pháp năm 1992 (911 lần), cũng như của các Hiến pháp trước đây. Mặc dù ở nhiều điều khoản của Hiến pháp mới, những cụm từ “theo pháp luật”, “do pháp luật quy định” hoặc “theo quy định của pháp luật” đã được bỏ đi hoặc thay thế bằng “do luật định”. Tuy nhiên vẫn còn một số điều hiện còn giữ lại những cụm từ này.  Ví dụ: Điều 25 Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.” Các quyền hiến định luôn cần thiết, có thể và không được trì hoãn việc cụ thể hóa bằng luật. Nhưng đối với các quy định nhằm cấm xâm hại quyền, việc sử dụng cụm từ “theo pháp luật” đồng thời có thể dẫn đến hai khả năng: một là, mở rộng phạm vi bảo vệ; và hai là tăng thêm nguy cơ tùy tiện rút bớt/giảm nhẹ những trách nhiệm xử lý của các cơ quan nhà nước. Trong thực tế, khả năng thứ hai thường nổi bật hơn khả năng thứ nhất.

Về vấn đề này, cách tiếp cận của những nhà soạn thảo Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới là một minh chứng. Điều sửa đổi thứ nhất của bản Hiến pháp nước Mỹ quy định: “Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình”.

Ở đây quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối, không cần Quốc hội phải ban hành thêm một đạo luật nào, thậm chí việc thêm thắt còn phải nằm trong ngữ cảnh bị cấm. Mọi sự thêm thắt đều nằm trong phạm vi thu hẹp những quyền đó của người dân.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng, cần tiếp tục điều chỉnh các cụm từ hiện còn “theo pháp luật” thành “theo luật định” hoặc “do luật định” nhằm giảm thiểu nguy cơ tùy tiện giới hạn và vi phạm các quyền hiến định của các cơ quan nhà nước, nhất là đối với các cơ quan hành pháp, tức là các cơ quan quản lý - thi hành pháp luật, vừa làm luật (ban hành văn bản quy phạm dưới luật) vừa thi hành luật, tức là “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Nguy cơ cho sự diễn giải dễ cho cơ quan hành pháp là rất lớn, mà chưa nói đến việc có thể lạm dụng quyền của họ. Ở đây, việc cụ thể hóa bằng luật không có nghĩa là mọi vấn đề liên quan đến việc thực hiện quyền đó đều cần được quy định trong luật, mà chỉ cần quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, có thể trong một đạo luật riêng hoặc một đạo luật có liên quan.

 Thứ năm, thiếu một số quyền và tự do quan trọng. Là thành viên của cả hai công ước ICCPR và ICESCR từ đầu thập kỷ 1980, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ “những chuẩn mực nhân quyền quốc tế tối thiểu” được ghi nhận trong hai công ước này, mà đầu tiên là phải “nội luật hóa” vào Hiến pháp. Mặc dù vậy, cho đến nay, Hiến pháp vẫn thiếu vắng một số quyền và tự do quan trọng được nhấn mạnh trong hai công ước đã nêu, bao gồm: Quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch (ICCPR: Điều 8); Quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (ICCPR: Điều 11); Quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật ở mọi nơi (ICCPR: Điều 16); Quyền đình công (ICECSR: Điều 8.1); Quyền thành lập, gia nhập công đoàn (ICCPR: Điều 22, ICESCR: Điều 8.1); Tự do tư tưởng (ICCPR: Điều 18.1); Quyền được giữ quan điểm riêng mà không bị can thiệp (ICCPR: Điều 19.1). Đây cũng là lý do được viện dẫn để phản đối những người yêu cầu phải có nhân quyền trong bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới: Không thể ghi nhận đầy đủ tất cả các quyền con người trong một bản Hiến pháp. Nhưng cuối cùng họ đã tìm ra cách giải quyết đáp ứng cả hai luồng tư tưởng vĩ đại nói trên bằng một quy định vừa có tính chất dân dã vừa có tính chất hàn lâm rằng: Việc liệt kê những điều trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân.14

Thứ sáu, quyền và nghĩa vụ là không thể tách rời. Điều 15 Hiến pháp quy định: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Theo logic này, Điều 39 quy định “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập”. Những quy định trên dù đã “bén rễ’ vào tư duy của các nhà quản lý và được nhấn mạnh trong nhiều văn bản pháp luật, kể cả Hiến pháp hiện hành, khẩu hiệu “quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” đã trở thành khẩu hiệu truyền thống, nhưng câu khẩu hiệu trên không có nội hàm thực chất (nó chỉ có ý nghĩa như một câu khẩu hiệu); nhưng quan trọng hơn, nó có thể được hiểu và áp dụng theo một cách thức phi logic và phi thực tế (mọi quyền phải kèm theo một nghĩa vụ tương ứng, như ví dụ Điều 39). Liệu có một quyền nào luôn gắn chặt (không tách rời) với một nghĩa vụ tương ứng trong thực tế? Nếu quyền luôn gắn liền nghĩa vụ tương ứng, vậy quyền sống gắn với nghĩa vụ gì? Một em bé vừa ra đời tất nhiên có quyền con người, liệu em đó có phải thực hiện một nghĩa vụ nào tương ứng không? Nếu công dân có quyền đồng thời với nghĩa vụ học tập, vậy để hoàn thành nghĩa vụ này cần phải học tập đến cấp độ nào? Thế nào là vi phạm nghĩa vụ học tập và chế tài nào cho những vi phạm đó?

Đây là những quy định thể hiện rõ sự phát triển quan niệm của chế độ phong kiến, khi mà đại đa số con người chỉ bao gồm những thần dân, họ chỉ có nghĩa vụ phải gánh vác để phục vụ nhà Vua, sau đó là giới quý tộc mà không có quyền lợi được hưởng thụ, họ không có quyền được đòi hỏi. Tiếp sang đến chế độ dân chủ, nhất là ở phương Đông, muốn được hưởng quyền thì lẽ đương nhiên phải gánh vác nghĩa vụ, thậm chí trong đa số các trường hợp, muốn được hưởng quyền thì trước hết phải gánh vác nghĩa vụ. Phương Tây có cách tiếp cận khác, trước hết đã là con người thì họ phải có quyền. Hiến pháp với tư cách là đạo luật tối cao thể hiện khế ước của mọi người dân trước khi thành lập ra nhà nước để bảo vệ quyền của họ, thì nhiệm vụ đầu tiên của Hiến pháp phải ghi rõ các quyền bất di bất dịch và là lẽ đương nhiên được hưởng của người dân, mà không phải là nghĩa vụ. Để đến chỗ hiểu được như vậy họ cũng phải trải qua một cuộc đấu tranh rất nặng nề, nhưng không thể nào nặng nề bằng các quốc gia của phương Đông, nơi có hàng nghìn năm phong kiến và thuộc địa. 

 Thứ bảy, quyền của đồng giới, song giới, chuyển giới (LGBT). Xu hướng trên thế giới là ngày càng thừa nhận các quyền của LGBT, bao gồm các quyền không phân biệt đối xử và quyền về hôn nhân của họ. Sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội để Việt Nam hòa mình vào dòng chảy chung trên thế giới về vấn đề trên. Ở đây, Hiến pháp sửa đổi không nhất thiết cần quy định một quyền cụ thể nào đó của LGBT, nhưng hoàn toàn có thể điều chỉnh một số quy định để tạo cơ sở cho việc luật hóa quyền về hôn nhân và quyền không bị phân biệt đối xử của nhóm này mà không xung đột với bất kỳ nội dung nào liên quan. Vẫn như cũ, Hiến pháp mới quy định: Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. 

Thứ tám, sở hữu đất đai. Sở hữu đất đai là một trong những vấn đề được tranh luận nhiều nhất trong lần sửa đổi Hiến pháp này. Hiến pháp vẫn không thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai. Ngoài những cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam đã được nhiều tác giả phân tích, việc này còn bởi quyền sở hữu đất đai cũng được coi là một quyền con người theo luật quốc tế. Cụ thể, sở hữu đất đai được đặc biệt nhấn mạnh với ý nghĩa là một quyền của nhóm trong Công ước số 169 năm 1989 về các dân tộc bản địa và bộ lạc của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và trong Tuyên bố năm 2007 của Liên hợp quốc về quyền của người bản địa. Trong UDHR, quyền sở hữu đất đai thuộc nội hàm của quyền sở hữu tư nhân về tài sản.15 Trong ICCPR, quyền sở hữu đất đai được gắn với quyền tự quyết với nguồn tài nguyên thiên nhiên và quyền được bảo đảm (không bị tước đoạt) các nguồn sinh sống của một cộng đồng.16

Khi triển khai thực hiện các điều khoản nói trên cần phải tính đến những sự giải thích gần tương thích hơn với tiêu chuẩn của Công ước quốc tế. Ví dụ, khi triển khai thực thi quyền sở hữu toàn dân về đất đai cần có những tính toán gia cố thêm quyền sử dụng đất của các chủ thể có quyền sử dụng. Trong đó có quyền sử dụng đất của tư nhân như: kéo dài thời hạn sử dụng đất từ 20 năm cho đến 50 năm đối với đất nông nghiệp, 70 năm cho đất rừng, 90 năm cho đất đô thị,…

Kết luận

Mặc dù vẫn còn những điểm chưa đáp ứng được mong đợi của nhiều người, nhưng so với các Hiến pháp trước đây, Hiến pháp mới có những điểm rất sáng, nổi lên nhất là những quy định về quyền con người và quyền công dân. Điểm sáng đó không chỉ tập trung vào việc quy định ở Chương II của Hiến pháp, mà còn ở tất cả các chương, điều khác của Hiến pháp thể hiện ở sự phân công, phân nhiệm rạch ròi giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cho ba chủ thể tương ứng là Quốc hội, Chính phủ và Tòa án. Đó là nền tảng sự tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm nhân quyền trong một xã hội hiện đại. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn chứa đựng một số vấn đề chưa thực sự tương thích với tiêu chuẩn của nhân quyền quốc tế. Việc triển khai thực thi những quy định của Hiến pháp về lĩnh vực này cần phải tính đến yếu tố tích cực lẫn tiêu cực của vấn đề. Tích cực thì phải được nhân rộng, còn tiêu cực thì phải hạn chế sự ảnh hưởng của chúng. Có như vậy thì quyền con người của Việt Nam mới có thể càng ngày càng gần và càng tương thích với tiêu chuẩn của nhân quyền quốc tế.

 


* GS. TS.; Đại học Quốc gia Hà Nội.

** TS. Đại học Quốc gia Hà Hội.

1 Xem: Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào (2004), Nxb. Thế giới, Hà Nội.

2 Xem: Thẩm phán R. Jackson trong vụ West Virginia Board of Education kiện Barnette, 1943.

3 Bà Roosevelt, phu nhân của Tổng thống Hoa Kỳ là một trong những người chỉ đạo việc soạn thảo Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948.

4 Xem: Danh sách các nước thành viên của hai Công ước quốc tế về nhân quyền, nước  Mỹ gia nhập năm 1977.

5 Xem: Vũ Công Giao, Quyền con người và quyền công dân trong dự thảo lần thứ 2 và thứ 3 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. 

7 Xem Điều 20(1) Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền 1948 (UDHR) và Điều 21 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR).

8 Xem Điều 22(2) ICCPR.

9 Xem các Điều 19, 20 ICCPR.

10 Xem Điều 4(2) ICCPR. Các quyền liệt kê ở trên thuộc về các Điều 6, 7, 8 (khoản 1 và 2), 11, 15, 16 và 18 ICCPR.

11 Xem: Khoản 62, 63, 64 Các nguyên tắc Limburg, 1986 về việc thực hiện Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa.

12Xem thêm: Bình luận và khuyến nghị của tổ chức ARTICLE 19, http://www.article19.org/resources.php/resource/3680/en/vietnam:-proposed-constitutional-amendments-go-against-international-law.

13 Xem, Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào, Sđd.

14 Xem, Điều bổ sung thứ 9 của Hiến pháp Hoa Kỳ.

15 Điều 17 UDHR quy định: 1) Mọi người có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hoặc chung với người khác; 2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách tùy tiện.

16 Điều 1 I CCPR.