Giới thiệu bài: Người Chứt: Đói nghèo và thoát đói nghèo// Đỗ Thịnh/ Tạp chí Nghiên cứu Con người._Số 2 năm 2002

22/07/2010
Bài viết Người Chứt: Đói nghèo và thoát đói nghèo của tác giả Đỗ Thịnh được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Con người, Số 2(2), 2002. Bài viết đã khái quát tình trạng đói nghèo và dấu hiệu của việc thoát nghèo tại xã Dân Hóa (huyện Minh Hóa, Quảng Bình) – một nơi tập trung nhiều người đồng bào dân tộc Chứt sinh sống.

Bài viết Người Chứt: Đói nghèo và thoát đói nghèo của tác giả Đỗ Thịnh được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Con người, Số 2(2), 2002. Bài viết đã khái quát tình trạng đói nghèo và dấu hiệu của việc thoát nghèo tại xã Dân Hóa (huyện Minh Hóa, Quảng Bình) – một nơi tập trung nhiều người đồng bào dân tộc Chứt sinh sống.

Dân tộc Chứt là một trong số hơn 54 dân tộc của Việt Nam. Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, dân tộc Chứt có 3829 người sống ở 16 tỉnh, thành, tập trung nhiều nhất ở miền Tây tỉnh Quảng Bình và mấy bản nhỏ liền kề ở huyện Hương Khê (Hà Tĩnh).

Cảm giác chung của tác giả về người Chứt khi đến đây nghiên cứu đó là nghèo đói bởi tộc người này sống chủ yếu ở những vùng cằn cỗi, nơi ở là những hang đá hoang sơ hoặc lều, lán gắn liền với hang đá. Năm 1994, mức thu nhập bình quân mỗi nhân khẩu Chứt là 29.500 đồng, chỉ bằng 1/4 so với mức bình quân của nông thôn Việt Nam và bằng 85% so với dân tộc Bru-Vân Kiều, một dân tộc cùng sống đan xen ở vùng cao.

Tuy nhiên, điều đáng mừng là đã có một số dấu hiệu của việc thoát nghèo đói ở đồng bào dân tộc Chứt. Ở cấp độ cộng đồng, xã Hóa Tiến đang có sự cải thiện về cơ sở hạ tầng như chợ, trường học, trạm y tế, điện và công trình nước công cộng. Người Chứt cư trú xen kẽ ở 6 thôn trong xã và họ sống hòa nhập gần như người Kinh. Họ biết làm ruộng, làm vườn, trồng các loại cây và nuôi các loài vật như người Kinh trong vùng. Tiếp đó là đến Bãi Dinh, một bản thuộc xã Dân Hóa. Bản này không có ruộng nước, người dân canh tác hoàn toàn trên nương rãy. Người Chứt ở đây buôn bán nhỏ, nấu rượu, nuôi lợn cũng phát triển tốt. Vùng xa trung tâm xã như vùng Yên Hợp là vùng biệt lập, có thung lũng tương đối bằng phẳng, chỉ giao lưu với trung tâm xã qua đường mòn. Ở vùng này cũng không có lúa nước nhưng nương rãy canh tác khá thuận lợi. Người dân trồng lúa, ngô, sắn, đậu, lạc, vừng. Một số hộ đã phát triển cây lạc thành một loại hàng hóa đáng kể. Một số hộ gia đình đã có dự trữ lương thực. Ở xã đã có trạm y tế, trường tiểu học, “chảo” thu phát sóng truyền hình vệ tinh và đặc biệt là một sân bóng đá tự tạo. Một bản khác là bản Tà Rà cách trung tâm xã 20km. Điểm ấn tượng đầu tiên với đoàn nghiên cứu là ở bản không thấy hộ nào còn cảnh lều lán lúp xúp, tạm bợ, tất cả đều là nhà sàn, cột gỗ chắc chắn. Có tỷ lệ khoảng 1/10 hộ trong xã hàng năm có nhà mới. Các hộ đều có vật nuôi như lợn, bò. Mặc dù ở đây nền nông nghiệp tự cấp tự túc vẫn là chính nhưng đã có dấu hiệu kết nối với kinh tế hàng hóa như là một chấm son để phát triển.

Tóm lại, đã có những biểu hiện cho thấy xu hướng thoát nghèo đói của người dân tộc Chứt. Người dân tộc Chứt cũng như nhiều dân tộc thiểu số đang sinh sống ở những vùng cao – sâu - xa đã bộc lộ những dấu hiệu nội lực phát triển đáng khích lệ. Theo tác giả, hệ thống giải pháp và chương trình phát triển nên tổ chức sao cho cùng với đầu tư hỗ trợ của ngoại lực sẽ nhanh chóng phát huy, nhân rộng nội lực của người dân nơi đây.

Vũ Thị Thanh lược thuật

 

The older news.............................