Giới thiệu bài: Quan hệ xã hội và nguồn vốn xã hội ở Việt Nam: Điều tra Giá trị Thế giới 2001// Russell J. Dalton, Phạm Minh Hạc, Phạm Thành Nghị, Thụy Như Ngọc._Số 2 năm 2002

22/07/2010
Bài viết Quan hệ xã hội và nguồn vốn xã hội ở Việt Nam: Điều tra Giá trị Thế giới 2001 của các tác giả Russell J. Dalton, Phạm Minh Hạc, Phạm Thành Nghị và Thụy Như Ngọc được đăng trên Tạp chí nghiên cứu Con người, số 2(2), 2002. Bài viết đã đề cập đến các mô hình quan hệ xã hội và nguồn vốn xã hội ở Việt Nam dựa trên việc phân tích kết quả Điều tra Giá trị thế giới (WVS) ở Việt Nam năm 2001. Các câu hỏi được đặt ra trong bài viết là tìm hiểu xem những thay đổi đang diễn ra trong tình hình kinh tế và chính trị của Việt Nam có liên quan đến những thay đổi trong đời sống xã hội hay không; những thay đổi xã hội này có ảnh hưởng tới sự kết nối xã hội của các cá nhân, bản chất của các mối quan hệ trong các nhóm xã hội hay không; liệu các hình thức vốn xã hội có đang phát triển ở Việt Nam hay không; và những xu hướng này có tác động gì đến thái độ đối với gia đình và giới?

Bài viết Quan hệ xã hội và nguồn vốn xã hội ở Việt Nam: Điều tra Giá trị Thế giới 2001 của các tác giả Russell J. Dalton, Phạm Minh Hạc, Phạm Thành Nghị và Thụy Như Ngọc được đăng trên Tạp chí nghiên cứu Con người, số 2(2), 2002. Bài viết đã đ cập đến các mô hình quan hệ xã hội và nguồn vốn xã hội ở Việt Nam dựa trên việc phân tích kết quả Điều tra Giá trị thế giới (WVS) ở Việt Nam năm 2001. Các câu hỏi được đặt ra trong bài viết là tìm hiểu xem những thay đổi đang diễn ra trong tình hình kinh tế và chính trị của Việt Nam có liên quan đến những thay đổi trong đời sống xã hội hay không; những thay đổi xã hội này có ảnh hưởng tới sự kết nối xã hội của các cá nhân, bản chất của các mối quan hệ trong các nhóm xã hội hay không; liệu các hình thức vốn xã hội có đang phát triển ở Việt Nam hay không; những xu hướng này có tác động gì đến thái độ đối với gia đình và giới?

Về quan hệ xã hội và mạng lưới xã hội

Trong điều WVS, câu hỏi về mạng lưới xã hội được thể hiện qua mức độ thường xuyên cá nhân tham gia vào các hoạt động xã hội khác nhau. Kết quả cho thấy gia đình là tâm điểm của đời sống xã hội ở Việt Nam với 59% cho rằng họ dành thời gian cho cha mẹ và họ hàng hàng tuần. Trong khi tỷ lệ tương tự dành cho đồng nghiệp và bạn bè chỉ chiếm lần lượt là 32% và 17%. So sánh với một số nước khác, kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ dành thời gian cho các mạng lưới công việc của Trung Quốc cao hơn rất nhiều (62%). Còn tỷ lệ này của Nhật Bản và Philipin cũng ngang bằng với Việt Nam (lần lượt là 21% và 34%). Ngược lại, mạng lưới bạn bè ở Việt Nam có xu hướng ít quan trọng hơn các quốc gia trên (thể hiện qua mức độ gặp gỡ bạn bè hàng tuần). Kết quả xem xét các mối tương quan cho thấy mức độ thu nhập và của cải càng cao thì càng làm gia tăng sự tham gia vào tất cả các mạng lưới xã hội; học vấn cao cũng làm gia tăng các hoạt động của cá nhân với gia đình, bạn bè và hệ thống công việc. Riêng tôn giáo lại thể hiện một vai trò khá phức tạp trong xã hội Việt Nam. Cụ thể, một mặt có sự dịch chuyển từ các giá trị tôn giáo truyền thống sang các giá trị thế tục duy lý trong nhóm thanh niên và người có học thức. Mặt khác, các hoạt động tôn giáo vẫn tồn tại. Người dân vẫn bàn luận về các niềm tin tôn giáo, và các hoạt động lễ hội truyền thống vẫn được tái lập ở nông thôn.

Về sự tham gia vào các nhóm

Sự tham gia vào các nhóm xã hội giúp phát triển các kỹ năng liên cá nhân, giúp mở rộng các kinh nghiệm sống và quan điểm của các thành viên trong nhóm. Kết quả WVS 2001 cho thấy người Việt Nam tích cực tham gia vào cuộc sống xã hội. Hơn một phần năm dân cư cho rằng họ là thành viên của một nhóm thể thao/giải trí, một nhóm cộng đồng địa phương, tổ chức phúc lợi xã hội, nhóm phụ nữ hay nhóm chính trị. Đồng thời họ cũng tham gia rất nhiều vào các nhóm giáo dục/văn hóa, các hiệp hội nghề nghiệp và các đoàn thể. Trung bình một người trả lời phỏng vấn thuộc về 2.33 nhóm. Con số này cao hơn nhiều so với Trung Quốc, Nhật Bản và Philipin (lần lượt là 0.91; 1.41 và 1.93). Kiểm định thống kê cho thấy không có mối quan hệ về tuổi nhưng có mối quan hệ về thu nhập và học vấn với sự tham gia xã hội của cá nhân. Thu nhập và học vấn tăng cũng đưa đến sự tham gia xã hội nhiều hơn của các cá nhân.

Về các mối quan hệ trong gia đình và mô hình quyền lực

Tầm quan trọng của gia đình là một khía cạnh mang tính lịch sử trong xã hội Việt Nam cũng như trong nhiều nước có truyền thống Nho giáo ở Đông Á. Có tới 82% số người được phỏng vấn ở Việt Nam đánh giá tầm quan trọng của gia đình ở mức “rất quan trọng”. Con số này cao tương đương với các quốc gia Đông Á khác. Thêm vào đó, hầu hết những người trả lời phỏng vấn (99%) cho rằng cha mẹ cần phải được tôn trọng cho dù họ có phẩm hạnh hoặc lỗi lầm như thế nào; 97% khẳng định “một trong những mục tiêu chính trong cuộc đời là làm cho cha mẹ tự hào”. Điều thú vị là số liệu điều tra cho thấy những người tin rằng cha mẹ có trách nhiệm hy sinh cho con cái có nhiều khả năng tán thành sự tôn trọng dành cho các nhà chức trách (81%) hơn với những người nghĩ rằng cha mẹ cần có cuộc sống của mình riêng (73%). Tương tự, nhóm thứ nhất có nhiều khả năng tin rằng cha mẹ cần phải chú trọng tới sự vâng lời khi nuôi dạy con cái (57%) hơn nhóm thứ hai (45%).

Về các mối quan hệ giới

Điều tra WVS đã xem xét thái độ về giới trên nhiều lĩnh vực và có nhiều câu hỏi tập trung vào sự ủng hộ đối với vai trò truyền thống của phụ nữ. Có tới 48% cho rằng đàn ông có quyền có việc làm khi công việc khan hiếm; 86% khẳng định phụ nữ có con thì mới hoàn thành được vai trò của mình và chỉ có 16% tán đồng việc phụ nữ nuôi con một mình. Thái độ như vậy nhìn chung là có xu hướng phổ biến ở các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ngoài ra, kết quả khảo sát cho thấy đa số người dân cho rằng đàn ông làm chính trị giỏi hơn (56%) nhưng người dân có xu hướng phản đối mạnh mẽ việc cho rằng giáo dục đối với con trai quan trọng hơn đối với con gái (76%).

Tóm lại, từ việc phân tích các kết quả khảo sát, các tác giả đã đi đến một số kết luận rằng: Ở Việt Nam ngày nay, tính trung tâm của gia đình vẫn tiếp diễn. Mối quan hệ gia đình vẫn là trung tâm của các mạng lưới xã hội và sự tôn trọng đối với cha mẹ vẫn phổ biến; Các mạng lưới xã hội dường như ngày càng trở nên quan trọng trong quá trình hiện đại hóa xã hội đang diễn ra ở Việt Nam; Mặc dù phụ nữ đã có những tiến bộ về kinh tế và xã hội nhưng vẫn thiếu sự ủng hộ hoàn toàn dành cho bình đẳng giới.

                                                                                                                                                                                                                                              Vũ Thị Thanh lược thuật

The older news.............................