Giới thiệu kết quả đề tài cấp Bộ 2019-2020: “Nghiên cứu hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số từ cách tiếp cận phát triển con người”

02/04/2021

 

Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số từ cách tiếp cận phát triển con người” do TS. Vũ Thị Thanh, NCVC thuộc phòng Nghiên cứu Phát triển con người là chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Con người là cơ quan chủ trì đã được thực hiện trong giai đoạn 2019-2020. Nghiên cứu này phân tích các chiều cạnh hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) từ cách tiếp cận phát triển con người – cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, chú trọng đến sự phát triển vì con người, do con người và bởi con người. Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, phương pháp khảo sát định lượng, thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu,  nghiên cứu đã phân tích cơ hội và khả năng hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số trên ba phương diện: thị trường (tiếp cận việc làm và đất đai); tiếp cận dịch vụ xã hội (giáo dục, thông tin và y tế); tham gia chính trị xã hội. Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Lai Châu – một tỉnh nghèo nhất cả nước với hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hạn chế về hòa nhập xã hội của phụ nữ dân tộc thiểu số và những rào cản đối sự hòa nhập xã hội của họ. Cụ thể như sau:

Về tiếp cận việc làm: Đại đa số phụ nữ DTTS vẫn chỉ làm nông nghiệp - loại công việc được cho là có tính dễ bị tổn thương cao. Việc tìm kiếm việc làm của phụ nữ DTTS chủ yếu dựa vào các mối quan hệ cá nhân mà chưa có nhiều hoạt động của chính quyền địa phương hay các tổ chức xã hội hỗ trợ. Khả năng tiếp cận việc làm của phụ nữ DTTS bị hạn chế do năng lực và thiếu các nguồn lực khác như các mối quan hệ xã hội và thông tin về việc làm.

Về tiếp cận đất đai: Mặc dù pháp luật Việt Nam ghi nhận phụ nữ có quyền có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng với nam giới nhưng điều này chưa thực sự phát huy hiệu quả ở cộng đồng DTTS. Thực tế cho thấy còn tồn tại nhiều yếu tố cản trở sự tiếp cận đất đai của họ: thiếu thông tin về đất đai và các chính sách về đất đai; ít có quyền năng trong các quyết định về đất đai của gia đình; hạn chế trong nhận thức của cả phụ nữ và nam giới về quyền của phụ nữ trong tiếp cận đất đai; bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai.

Về tiếp cận y tế, chính sách của nhà nước về cấp thẻ bảo hiểm miễn phí cho đồng bào DTTS sống ở vùng sâu, vùng xa đã phần nào làm mở rộng cơ hội tiếp cận y tế cho phụ nữ DTTS. Phụ nữ DTTS vấn gặp một số khó khăn trong tiếp cận y tế: chất lượng dịch vụ y tế còn hạn chế do thiếu trang thiết bị và nhân lực y tế; khoảng cách địa lý và khó khăn trong đi lại (đường xa, thiếu phương tiện). Sự chủ động của phụ nữ trong tiếp cận y tế còn hạn chế do nhiều người trong số họ không sử dụng được tiếng phổ thông, phải phụ thuộc vào người nhà hoặc người chồng theo truyền thống.

Về tiếp cận giáo dục, trình độ giáo dục của phụ nữ tham gia nghiên cứu này là rất thấp với 58,5% chưa từng đi học và 70% hiện không biết chữ.  Các yếu tố cản trở sự tiếp cận giáo dục của phụ nữ DTTS: thiếu chủ động, tích cực của phụ nữ DTTS trong tìm hiểu và tham gia các hoạt động xóa mù ở địa phương; tâm lý e ngại, thiếu động lực học; yếu tố địa lý khó khăn; định kiến về giới; tình trạng tảo hôn; khó khăn về kinh tế và khó tìm kiếm việc làm ở địa phương sau khi tốt nghiệp, v.v…

Về tiếp cận thông tin, mặc dù đánh giá cao tính cần thiết của thông tin nhưng trên thực tế việc tiếp cận thông tin của phụ nữ DTTS còn rất hạn chế. Phụ nữ DTTS chủ yếu tiếp cận thông tin qua những hình thức truyền thông trực tiếp tại cộng đồng như các họp thôn bản, các đoàn thể hoặc từ cán bộ địa phương. Những loại hình thông tin mà phụ nữ được tiếp cận nhiều nhất là thông tin về sức khỏe, kinh tế. Thông tin về việc làm là loại thông tin mà phụ nữ ít được tiếp cận nhất. Yếu tố cản trở việc tiếp cận thông tin của phụ nữ DTTS: hạn chế về năng lực cá nhân (không biết chữ, không biết tiếng phổ thông); thiếu các hình thức cung cấp thông tin phù hợp và không sẵn có các nguồn cung cấp thông tin phù hợp với khả năng tiếp cận của họ.

Về tham gia các hoạt động chính trị xã hội: Việc phụ nữ tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội tại đại phương thấp và gặp nhiều rào cản từ yếu tố chủ quan đến khách quan. Yếu tố phố biến gây cản trở cơ hội tham gia xã hội của phụ nữ DTTS là sự thiếu chủ động, tự tin trong tham gia; sự hạn chế về tiếp cận thông tin (bao gồm thông tin về các cuộc bầu cử, về các ứng cử viên, về các cuộc họp thôn bản…). Bên cạnh đó, phụ nữ không là chủ hộ, những định kiến về vai trò giới gắn phụ nữ với những trách nhiệm gia đình và không đề cao tiếng nói của phụ nữ làm cản trở sự tham gia của phụ nữ vào quá trình ra quyết định ở cộng đồng.

Đề tài đã đưa ra những gợi ý chính sách và các khuyến nghị đối với chính quyền địa phương ở Lai Châu để tăng cường sự hòa nhập xã hội của phụ nữ DTTS trên các phương diện cơ bản của đời sống, góp phần thúc đẩy sự hòa nhập xã hội. Những khuyến nghị đưa ra cũng đem đến những hàm ý chính sách dành cho phụ nữ DTTS nói chung tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giảng dạy và nghiên cứu liên quan đến sự hòa nhập xã hội của các nhóm yếu thế. 

Đề tài đã được nghiệm thu cấp bộ đạt loại Khá. Sản phẩm đề tài được đăng kí tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội Việt Nam và Thư viện Viện Nghiên cứu Con người.

Vũ Thanh

 

 

The older news.............................