Giới thiệu kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Bảo đảm an ninh nguồn nước vì mục tiêu phát triển con người tỉnh Hà Nam

16/03/2020

 

          Đề tài sử dụng cách tiếp cận Xã hội học môi trường, lý thuyết về phát triển con người, tiếp cận dựa trên quyền con người và phương pháp điều tra xã hội học (định lượng và định tính).

          Nước là một trong 3 thành phần quan trọng nhất của môi trường (nước, đất, không khí), là nguồn gốc của mọi sự sống trên trái đất, là cốt lõi của sự phát triển bền vững, là tài nguyên chiến lược quan trọng nhất mà mọi sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người đều không thể thiếu. Với ý nghĩa và giá trị quan trọng như vậy nên vấn đề bảo vệ và sử dụng nguồn nước cũng như vấn đề bảo đảm an ninh nguồn nước trở thành một trong những chính sách quan trọng hàng đầu của mỗi  quốc gia, khu vực và toàn cầu, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu có diễn biến phức tạp như hiện nay.

Hà Nam là tỉnh thuộc lưu vực sông Hồng và nằm ở hạ lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy. Với địa hình trũng lòng chảo và địa chất núi đá vôi nên vấn đề lũ lụt, ngập úng và nhạy cảm với ô nhiễm từ các nguồn thải theo hệ thống dòng chảy và hệ thống nguồn nước ngầm có chứa nhiều kim loại nặng là những yếu tố bất lợi làm gia tăng áp lực lên nguồn nước ở Hà Nam. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của vùng đồng bằng sông Hồng, khoảng hơn chục năm trở lại đây Hà Nam vượt lên là một trong số ít tỉnh dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư, phát triển kinh tế. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các làng nghề và trang trại, gia trại tăng lên nhanh chóng góp phần cải thiện cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh và nóng nói chung của khu vực đồng bằng sông Hồng nói chung và Hà Nam nói riêng đã dẫn đến nhiều hệ lụy cho sự phát triển bền vững trong đó có phát triển con người ở Hà Nam.

Kết quả nghiên cứu bảo đảm an ninh nguồn nước (ANNN) ở Hà Nam cho thấy :

  1. ANNN hộ gia đình đã được cải thiện. Đến hết năm 2017 toàn tỉnh không còn hộ sử dụng nước giếng cho ăn uống, đã có 94% dân số được đấu nối với nguồn nước máy. Tuy nhiên, về chất lượng nước chưa đáp ứng yêu cầu. Mới có 50% số nước cấp đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế, nguồn cung đầu vào cho các nhà máy nước không sẵn có do bị ô nhiễm nặng và khan hiếm; nước cấp không đạt về số lượng, không an toàn về chất lượng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe thể chất lẫn sức khỏe tinh thần của người dân. Tỷ lệ người dân mắc các bệnh liên quan đến ONNN còn cao, đặc biệt số người mắc bệnh ung thư gia tăng và ngày càng trẻ hóa về độ tuổi gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Người dân nông thôn, người nghèo khả năng tiếp cận nước máy thấp hơn người dân đô thị và người không nghèo do phí đấu nối cao trong khi chính sách miễn giảm, trả góp không được công khai.
  2. ANNN kinh tế chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân cả về lượng và về chất. Nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp mới đáp ứng được 62% diện tích lúa, trong khi diện tích cấy lúa giảm thấp nhất trong cơ cấu nông nghiệp. Các cây hoa màu chưa được cung ứng từ nguồn nước thủy lợi; thiệt hại lớn nhất do nguồn nước là các hộ nuôi cá, nhiều hộ rơi vào nợ nần và mất đi sinh kế. Vấn đề nguồn nước là vấn đề nan giải với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; đến uy tín thương hiệu, sức tiêu thụ hàng hóa, ảnh hưởng đến thu nhập, sinh kế người dân.
  3. ANNN đô thị cũng còn nhiều vấn đề nan giải do nguồn nước cấp chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của cư dân, cả về lượng và chất. Vấn đề xử lý thải đã được quan tâm nhưng tỷ lệ nước thải được xử lý không đáng kể. Hệ thống tiêu thoát nước đô thị kém tác dụng bởi hệ thống sông, hồ một phần bị san lấp, bị rác thải lấn chiếm thu hẹp lòng; hệ thống cống tiêu thoát nước không đồng bộ, xuống cấp dẫn đến hiện tượng cứ mưa là ngập gây ách tắc giao thông, ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống người dân.
  4. ANNN môi trường ngày càng xuống cấp bởi các hóa chất tồn dư tích tụ lâu ngày cộng thêm chất thải mới ngày càng nhiều. Kết quả quan trắc của Trung tâm quan trắc môi trường các năm cũng như ý kiến phản ánh của người dân cho thấy nguồn nước sông nội tỉnh, liên tỉnh, nguồn nước ao, hồ, kênh mương đều ô nhiễm và có xu hướng nặng hơn. Điều này ảnh hưởng rất lớn không chỉ với con người mà cả với các hệ sinh thái và với cây trồng, vật nuôi bằng nguồn nước ô nhiễm.
  5. Để giảm thiểu thiệt hại cho người dân do các sự cố liên quan đến ONNN gây ra, Hà Nam đã đầu tư trang bị hệ thống bơm tưới tiêu, và kênh mương thủy lợi, cung cấp thông tin thường kỳ về tình trạng nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy,... Tuy nhiên, do tác động của BĐKH, mưa bão bất thường trái vụ, nguồn gây ô nhiễm ngoại tỉnh ngày càng phức tạp và nguy hiểm, nguồn gây ô nhiễm nội tỉnh ngày càng lớn, ý thức người dân chậm thay đổi, trong khi người dân các vùng dễ bị tổn thương bởi lũ lụt, ô nhiễm ngày càng khó khăn và sức chống chịu suy giảm khiến họ càng bị tổn thương. Sau 2 năm liên tiếp bị ngập do lũ lụt nhiều hộ lâm vào cảnh nghèo, nợ nần chồng chất và không có khả năng thanh toán, đời sống khó khăn, sức khỏe yếu, bệnh tật và dịch bệnh liên miên.

          Đề tài đã được nghiệm thu tại Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đạt loại Khá. Báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài được lưu tại Ban Quản lý Khoa học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), Thư viện Viện Nghiên cứu Con người (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).

Phạm Thị Tính

 

 

 

 

The older news.............................