Giới thiệu kết quả đề tài cấp Bộ năm 2017-2018 Phát triển con người của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang nhìn từ góc độ việc làm

16/03/2020

 

Về mặt lý luận: Nghiên cứu đã cập nhật lý luận khoa học cơ bản về phát triển con người, phát triển con người từ góc độ việc làm; hệ thống khung phân tích phát triển con người từ góc độ việc làm. Cụ thể, nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc làm là động lực căn bản thúc đẩy phát triển con người, tạo ra một cầu nối giữa phát triển kinh tế, thu nhập, sinh kế với giảm nghèo. Ở chiều ngược lại, phát triển con người, bằng cách nâng cao sức khỏe, tri thức, kỹ năng và nhận thức giúp tăng cường vốn con người và mở rộng các cơ hội và lựa chọn của con người, bao gồm cơ hội và lựa chọn về việc làm.

Từ góc độ việc làm, vấn đề phát triển con người của cộng đồng các dân tộc thiểu số được xem xét ở 4 phương diện chính là: cơ hội, năng lực, bền vững và hiệu quả. Cụ thể: (i) Cơ hội: cơ hội tiếp cận việc làm và bình đẳng trong cơ hội; (ii)  Năng lực: bao gồm năng lực đáp ứng việc làm của nguời lao đông dân tộc thiểu số và năng lực tự tạo việc làm của người lao động DTTS; (iii) Bền vững: cơ hội và năng lực dịch chuyển tìm việc làm mới khi bị mất việc làm, cơ hội và năng lực dịch chuyển tìm việc làm mới có năng suất cao hơn và (iv) Hiệu quả: mức độ phù hợp giữa sử dụng và đào tạo (năng lực), thu nhập, mức độ hài lòng đối với công việc.

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đã chỉ ra những vấn đề về phát triển con người của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang từ góc độ việc làm ở 4 phương diện nêu trên, đồng thời nêu rõ những nguyên nhân của những vấn đề và để xuất một số giải pháp nhằm phát triển con người của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang từ góc độ việc làm. Cụ thể: 

+ Cơ hội việc làm: nghiên cứu chỉ ra rằng cơ hội việc làm tại chỗ của người dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang vẫn còn hạn chế và chủ yếu vẫn là trong lĩnh vực nông nghiệp, phổ biến là làm ruộng, nương rẫy, chăn nuôi. Quy mô sản xuất vẫn còn nhỏ lẻ

+ Năng lực đáp ứng việc làm: Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang còn thấp. Tỷ lệ người lao động dân tộc thiểu số chưa từng đi học vẫn còn cao. Tỷ lệ người lao động dân tộc thiểu số đã qua đào tạo còn rất thấp. Người lao động dân tộc thiểu số còn thiếu kỹ năng làm việc. Năng lực tự tạo việc làm của người dân tộc thiểu số còn yếu. Họ thiếu năng lực về vốn, công nghệ, kỹ thuật... Bên cạnh đó, người lao động dân tộc thiểu số còn thiếu kiến thức về thị trường dẫn đến việc chưa chủ động trong kinh doanh, sản xuất, bị ép giá và trong nhiều trường hợp sản phẩm sản xuất ra không có thị trường tiêu thụ.

+ Tính bền vững: Tỷ lệ người lao động dân tộc thiểu số chưa được mua bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế còn ở mức thấp. Việc dịch chuyển công việc ra khỏi nông nghiệp còn chậm. Họ không có cơ hội và năng lực để dịch chuyển việc làm sang lĩnh vực phi nông nghiệp ở địa phương do sự hạn chế về cơ hội việc làm.  Việc di cư để tìm việc làm phi nông nghiệp ở những địa phương khác cũng đang là một thách thức đối với người lao động DTTS ở Hà Giang do bởi yếu tố tâm lý và văn hóa.  Tương tự việc dịch chuyển từ công việc tự làm đến công việc trả lương vẫn còn hạn chế. Người lao động dân tộc thiểu số ở Hà Giang vẫn chủ yếu làm những công việc dễ bị tổn thương. Việc mở rộng kinh doanh nhằm cải thiện thu nhập cho những người lao động dân tộc thiểu số tự tạo việc làm vẫn là một thách thức vô cùng to lớn.

+ Hiệu quả: Thu nhập hiện nay của người lao động dân tộc thiểu số ở Hà Giang vẫn còn ở mức thấp. Thu nhập chưa đáp ứng đủ nhu cầu một bộ phận lớn người lao động dân tộc thiểu số. Việc đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc, thậm chí có trường hợp người lao động dân tộc thiểu số sau khi hoàn thành khóa học nghề cũng không thể kiếm được việc làm từ nghề được đào tạo.

Với những vấn đề nêu trên, nghiên cứu đã đề xuất 4 nhóm giải pháp nhằm phát triển con người của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang  trong thời gian tới. Đó là các nhóm giải pháp về mở rộng cơ hội, nhóm giải pháp về nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu công việc và tự tạo việc làm, nhóm giải pháp về nâng cao tính bền vững và nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả việc làm.

Đề tài đã được nghiệm thu tại Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đạt loại Khá. Báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài được lưu tại Ban Quản lý Khoa học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), Thư viện Viện Nghiên cứu Con người (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).

Lê Thị Đan Dung

 

The older news.............................